Skip to main content
38 ngõ 495 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tác giả: admin

Thành viên FiClub xuất sắc giành giải Tài năng cuộc thi Phóng viên trẻ Pháp ngữ 2020


Phóng viên trẻ Pháp ngữ (Jeunes Reporters Francophones 2020) – là cuộc thi do Le Courrier du Vietnam – tờ báo bằng tiếng Pháp duy nhất tại Việt Nam thuộc Thông tấn xã Việt Nam – tổ chức lần thứ 5, với sự tài trợ của Văn phòng khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF); các Đại sứ quán: Pháp, Bỉ, Ma-rốc, Thụy Sỹ, Canada; Cơ quan Đại học Pháp ngữ (AUF); Phái đoàn Wallonie – Bruxelles tại Hà Nội; Văn phòng UNESCO tại Hà Nội và Bệnh viện Mắt Hà Nội 2.

Cuộc thi cũng nhận được sự trợ giúp ủng hộ của Quốc hội Việt Nam và các Bộ: Ngoại giao, Thông Tin và Truyền Thông.

Sau 3 tháng phát động với chủ đề: “COVID-19 đã thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào”, Ban tổ chức đã nhận được hơn 120 bài và chùm bài của hơn 150 thí sinh, phần lớn là sinh viên, tuổi đời từ 18-35, của 6 quốc gia (Pháp, Tunisie, Cameroun, Lào, Campuchia và Việt Nam), đạt kỷ lục về số lượng thí sinh tham dự đông nhất từ trước tới giờ.

Trong đó, không thể không kể tới sự tham gia tích cực của các thành viên CLB tiếng Pháp FiClub, bên cạnh môi trường gặp gỡ giao lưu tiếng Pháp hàng tuần, CLB còn hỗ trợ và động viên nhau tham gia các cuộc thi có giá trị tích cực như thế này.

Lễ trao giải Cuộc thi đã được tổ chức chiều 13/11, tại Hà Nội. Và thật hạnh phúc, khi Ứng Hoàng Anh – Moniteur của FiClub đã xuất sắc đem về GIẢI TÀI NĂNG – Với bài viết về bác hoạ sĩ già bán tranh trên cầu Long Biên. Đồng thời, bài viết của Hoàng Anh cũng được chọn để mở đầu cho bản in của tạp chí tổng hợp các bài viết ấn tượng tham gia cuộc thi năm nay.

Đây là bất ngờ lớn với Hoàng Anh nhưng cũng là thành quả vô cùng xứng đáng với những nỗ lực, cố gắng và sự sáng tạo độc đáo của bạn ấy trong thời gian tham gia cuộc thi.

Bật mí, đây là lần thứ 2 thành viên FiClub giật giải cao trong cuộc thi này rồi. Vậy nên, mùa thi năm sau, hi vọng Ban chủ nhiệm FiClub sẽ được nhìn thấy nhiều gương mặt sáng giá của FiClub lọt vào top đề cử nhé!

Cùng xem lại bài viết đem về giải Tài năng cho Hoàng Anh tại đây: Le vieux peintre du pont Long Biên – Le Courrier du VietNam

– Thanh Ngân –

 

Cách diễn đạt sự đồng tình hoặc phản đối 1 ý kiến trong tiếng Pháp


Exprimer son accord/désaccord
Trong một cuộc hội thoại thông thường, sẽ luôn có người đưa ra ý kiến, những người còn lại sẽ bày tỏ sự đồng tình hoặc phản đối. Vậy làm thế nào để diễn đạt sự đồng tình hay phản đối đó? Français intéressant đã tổng hợp giúp các bạn một vài cách diễn đạt rất phổ biến trong bài viết này.
Trong bài thi nói, thường có phần nói tương tác. Với tình huống cần thuyết phục người đối diện, hoặc tranh luận, nếu sử dụng tốt những cụm từ “à la française” thế này, bạn sẽ thấy mắt giám khảo long lanh luôn đấy 😀 😀 😀
Cùng xem nhé!

Accord:
1. Je suis pour
2. Je suis (entièrement) d’accord
3. J’approuve totalement, absolument
4. Je suis (tout à fait) de ton/votre avis
5. Je partage (complètement) ton/votre avis
6. Je suis favorable à ce projet
7. Absolument/Exactement/Effectivement/En effet/Tout à fait/Parfaitement/Évidemment
8. Bien entendu
9. Sans aucun doute
10. Bien sûr/Bien sûr que oui.
11. Vous avez (tout à fait) raison

Désaccord:
1. Je suis contre
2. Je n’approuve pas du tout
3. Tu as tort
4. Je ne suis (absolument) pas de ton/votre avis
5. Je ne partage pas (du tout) ton/votre avis
6. Je ne suis pas favorable
7. Absolument pas !
8. Pas du tout !
9. Vous plaisantez ? Vous vous moquez de moi ?
10. Tu plaisantes ! Tu veux rire !
11. N’importe quoi !
12. Jamais de la vie ! Et puis quoi encore ?
13. Tu rigoles ! Tu te fiches de moi !

Xem thêm các nội dung ngữ pháp quan trong khác tại: Các chủ điểm ngữ pháp – Học tiếng Pháp (tiengphapthuvi.fr)

– Ánh Tuyết –

Danh ngôn tiếng Pháp chủ đề Âm nhạc


Nếu bạn đã từng thả mình vào những giai điệu âm nhạc Pháp, chắc hẳn sẽ thấy sự tinh tế và cái “tình” trong từng ca khúc. Âm nhạc chính là hơi thở của cuộc sống, và cùng xem danh ngôn tiếng Pháp chủ đề Âm nhạc nói cho chúng ta nghe điều gì nhé!

1/ La vie sans musique est tout simplement une erreur, une fatigue, un exil.

Cuộc sống mà không có âm nhạc thì chỉ đơn giản là một lỗi sai, sự mệt mỏi, và cuộc đầy ải.

2/ La musique donne une âme à nos coeurs et des ailes à la pensée.

Âm nhạc đem đến cho trái tim ta một tâm hồn, và cho suy nghĩ trong ta đôi cánh.

3/ La musique est un moyen plus puissant que tout autre parce que le rythme et l’harmonie ont leur siège dans l’âme. Elle enrichit cette dernière, lui confère la grâce et l’illumie.

Âm nhạc chính là phương tiện quyền lực hơn tất cả bởi nhịp điệu và sự hài hòa luôn có chỗ đứng trong tâm hồn. Âm nhạc làm giàu tâm hồn, cho tâm hồn những ưu ái và cả sự giác ngộ.

4/ La musique est la langue des émotions.

Âm nhạc chính là ngôn ngữ của những xúc cảm.

5/ La musique commence là où s’arrête le pouvoir des mots.

Âm nhạc bắt đầu là khi sức mạnh của ngôn từ kết thúc.

6/ La musique, c’est un cadeau de la vie. Ça existe pour consoler, pour récompenser. Ça aide à vivre.

Âm nhạc là một món quà trong cuộc sống. Nó ở đó để an ủi ta, để khen thưởng ta. Nó giúp ta sống.

7/ Les bons sentiments appellent la belle musique. Quand on est heureux, ça chante!

Những cảm xúc đẹp gợi lên những nhạc điệu đẹp. Khi ta vui, những nhạc điệu sẽ cất lên!

8/ La musique est l’expression de l’idéal artistique le plus élevé; réfléxion des harmonies célestes, elle place l’homme directement devant les mystères les plus profonds de la vie.

Âm nhạc là biểu hiện của lý tưởng nghệ thuật cao đẹp nhất; phản ánh của sự hòa hợp thiên thể, nó đặt con người trực tiếp trước những bí ẩn sâu thẳm nhất của cuộc sống.

9/ L’avenir appartient à ceux qui sauront lire, vivre la musique et faire l’amour.

Tương lai chỉ thuộc về những người biết đọc, biết sống với âm nhạc và biết yêu thương.

Xem thêm các kiến thức ngôn ngữ tiếng Pháp thú vị tại: https://tiengphapthuvi.fr/category/thu-vien-hoc-tap/ngu-phap-tieng-phap/

– Ánh Tuyết – 

Nghề giáo: Sau ánh hào quang


Nghề giáo từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là một nghề vô cùng cao quý, được xã hội coi trọng và tôn vinh. Thật vậy, nhớ lại ngày xưa, mỗi lần 20/11, thầy cô trên trường được tặng biết bao nhiêu là hoa, bao nhiêu là quà, nhìn mà thích mê. Mẹ mình thường bảo: “Đấy con xem, sau này làm giáo viên thì sẽ được nhiều quà như vậy đấy.” Và mẹ vẫn luôn ấp ủ trong đầu ý nghĩ rằng nghề giáo thực đơn giản, nhàn nhã, không lo toan, không áp lực gì. Nhưng mọi người nào đâu có biết rằng đằng sau ánh hào quang ấy là biết bao nỗi khổ, biết bao nỗi vất vả khó nói nên lời.
? Đầu tiên, nỗi khổ “nhất quỷ, nhì ma, THỨ BA HỌC TRÒ”.
Việc truyền đạt kiến thức cho học sinh đã khó, nhưng việc đối mặt với những trò nghịch ngợm của chúng còn đau não hơn. Các cô các cậu học trò tuổi này dường như luôn dồi dào và dư thừa năng lượng, ngoài dùng để học hành ra, chúng còn luôn nghĩ ra những trò đùa quái gở mà đôi khi giáo viên cũng phải chịu thua. Hơn nữa, giáo viên chủ nhiệm chính là người mệt mỏi nhất khi phải giải quyết từng vấn đề nhỏ trong lớp, mà đã giải quyết thì nhất định phải vừa hợp tình, vừa hợp lý, làm cho học trò tâm phục khẩu phục.

? Thứ hai, bệnh liên quan đến nghề nghiệp.
Đã chọn nghề giáo thì ít nhất phải vài ba lần bị khản giọng, mất tiếng. Một tiết học 45 phút thì phải nói hết 30 phút, đã nói thì phải nói to, nói rành mạch rõ ràng, một ngày nói cả 5 tiết thì khác gì phá banh cổ họng. Rồi thì chưa kể phải hít bụi phấn từ ngày này qua tháng khác, cho nên ho, đau rát họng đã trở thành bệnh mãn tính và đặc trưng của nghề giáo rồi. Còn nữa, giáo viên phải đứng liên tục mỏi nhừ cả hai chân, khớp tay cũng rệu rã vì viết bảng. Đấy, mọi người xem có nhàn nhã gì không!
? Thứ ba, bận không có thời gian thở.
Ôi ai nói làm giáo viên chỉ phải làm việc giờ hành chính là lừa đảo rồi! Nghề giáo ngoài dạy học trên lớp, còn phải đi học bồi dưỡng, kiêm nhiệm các chức vụ và dự án của trường, rồi soạn bài, chấm điểm, sổ sách này nọ kia nữa là phải “tăng ca” đến nửa đêm. Và thế là hết một ngày như vậy đó.
? Vấn đề thứ 4, hơi tế nhị một tý, đó chính là lương.
Câu chuyện lương cơ bản là một vấn đề nhức nhối nhưng cũng hết sức tế nhị. Cao hay thấp thì chắc mọi người cũng biết rồi. Tóm lại là chỉ đi dạy không thì… khó mà trang trải cuộc sống. Chính vì thế nên các thầy, các cô mới phải có thêm nghề tay trái, tay phải, rồi hai ba tay luôn để còn phòng thân, đám cưới đám hỏi đồng nghiệp, học sinh cũ, bla blo. Thôi, nói đến đây thôi, không nên đi sâu thêm vào vấn đề này ahihi.

? Thứ 5, lúc nào cũng phải có giới hạn.
“Hôm nay mặc gì?” Đây luôn là một câu hỏi khó khăn đối với giáo viên. Mặc gì mà lại vừa phải kín đáo, vừa phải nhã nhặn, lịch sự. Ăn mặc “thoải mái” một tý là bị học sinh, phụ huynh “ý kiến” ngay. Kể cả giáo viên có trẻ đến mức nào cũng vậy thôi. Rồi cách cư xử, ăn nói, biểu cảm, tất cả đều phải được nhét vào trong một khuôn thước chuẩn mực. Mình có bạn làm giáo viên, có lần rủ nó đi bar cho biết mùi, nó giãy nảy: “Tao là giáo viên, làm sao đi bar được, nhỡ gặp học sinh, phụ huynh thì sao? Không được!” Ủa vậy cứ là giáo viên là không được đi bar, không được tụ tập bè bạn, không được hát hò, vui chơi à? Ôi, đối với giáo viên luôn luôn phải có những chừng mực, giới hạn thật… mệt mỏi như vậy…
Và đó, trên đây là những nỗi khổ thống thiết của các thầy cô giáo mà không phải ai trong chúng ta cũng biết được. Làm được cái nghề vinh quang mà vất vả, đau não này chắc hẳn người thầy, người cô ấy phải đam mê, phải yêu nghề lắm. Thật sự khâm phục họ biết bao! Và vì thế, đôi khi học sinh, phụ huynh cũng phải cố gắng thấu hiểu, chia sẻ, cảm thông và yêu thương, tôn vinh họ, để từ đó, họ có thêm động lực tiếp tục con đường gian truân này – con đường “trăm năm trồng người”.
———
Nhân kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, FiClasse chúc tất cả các thầy, các cô, và bất cứ ai đã, đang và sẽ theo con đường giảng dạy một sức khỏe dồi dào, một nguồn nhiệt huyết không bao giờ lụi tắt, chúc những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với thầy cô. Mong rằng thầy cô luôn thành công và được nhận được thật nhiều tình cảm của học trò trên con đường giảng dạy!
Bonne fête des enseignants vietnamiens!
– Ánh Tuyết – 

Các cặp tính từ – danh từ tiếng Pháp chủ đề “thời gian định kỳ”


Hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần …, ngoài cách “cổ điển”: par heure, par jour, par semaine, … hoặc chaque jour, chaque année … còn cách nào “nguy hiểm” hơn, để người ta biết là mình … đã hết trình độ Débutant không các bạn? Úm ba la, học ngay 10 từ này để “lên trình” thôi.

  1. Un salaire de l’heure ? horaire
  2. Une occupation de chaque jour ? quotidienne
  3. Les activités de la semaine ? hebdomadaires
  4. La sortie du mois ? mensuelle
  5. Un voyage de chaque 3 mois ? trimestriel
  6. Un examen de chaque 6 mois ? semestriel
  7. Un magazine de chaque 4 mois → quadrimestriel
  8. Une fête de chaque année ? annuelle
  9. Une exposition de la décennie ? décennale
  10. Un événement du siècle ? séculaire = centennal

Tham khảo các khóa học tiếng Pháp tại: https://tiengphapthuvi.fr/cat-khoa-hoc/khoa-hoc/

– Ánh Tuyết –

Danh ngôn tiếng Pháp chủ đề những hoài niệm (Des regrets)


Những nốt nhạc du dương đưa ta về ký ức hoài niệm, là những kỷ niệm vui, những nỗi buồn hay luyến tiếc thì đều đáng trân trọng cả. Hãy cùng Tiếng Pháp Thú Vị điểm qua những câu danh ngôn tiếng Pháp hay ho về chủ đề Des regrets này nhé!

1/ Moi, j’ai là-haut, parmi les étoiles… quelqu’un que je n’oublierai jamais!

Riêng tôi, tôi có trên cao kia, giữa những vì sao, một người mà tôi không bao giờ quên.

2/ J’ai besoin de voyager dans le passé… Non pas pour éviter certaines erreurs, mais pour embrasser quelqu’un qui n’est plus là!

Tôi cần một chuyến du hành về quá khứ, không phải để tránh phạm sai lầm, mà để ôm lấy một người đã không còn ở đây nữa.

3/ Parfois, tu ne connais pas la vraie valeur d’un moment jusqu’à ce qu’il devienne un souvenir.

Đôi khi, bạn không nhận thức được giá trị thực sự của một khoảnh khắc cho đến khi nó trở thành kỉ niệm.

4/ C’est quand on perd une personne… qu’on se rend compte à quel point elle était importante.

Chỉ khi bạn mất một người… bạn mới biết người ấy quan trọng như thế nào.

5/ Parfois, il faut effacer certaines personnes de notre vie pour notre bien, pour notre bonheur et pour notre réussite.

Đôi khi, ta phải quên một số người vì lợi ích, vì hạnh phúc và vì thành công của chính mình.

6/ Je ne regrette rien, mais j’aurais aimé prendre de meilleures décisions à certains moments de ma vie.

Tôi không tiếc gì hết, nhưng tôi vẫn muốn mình ra những quyết định tốt nhất vào một vài thời điểm trong đời.

  • Xem thêm các danh ngôn tiếng Pháp thú vị về cuộc sống tại đây!

– Ánh Tuyết – 

20 cặp danh từ – tính từ tiếng Pháp về chủ đề Thiên nhiên


Qu’est-ce que vous avez pour parler de la NATURE? (Bạn có gì để nói về thiên nhiên)

Thiên nhiên, môi trường là đề tài chưa bao giờ hết nóng với toàn thế giới, và với cả các kỳ thi tiếng Pháp. Để viết và nói về đề tài này, bạn cần có trường từ vựng phong phú. Còn để sử dụng linh hoạt, dễ dàng “biến tấu” cũng như tránh lặp từ trong bài nói, viết, bạn rất nên học các từ cùng họ.

Dưới đây, Fi liệt kê “sương sương” 20 cặp danh từ – tính từ về chủ đề Thiên nhiên. Nhiều danh từ cực kỳ quen thuộc nhưng không phải ai cũng biết tính từ của nó là gì đâu nhé!

Nature (f) ? naturel
Environnement (m) ? environnemental
Ciel (m) ? céleste
Eau (f) ? aquatique
Air (m) ? aérien
Terre (f) ? terrestre
Fleuve (m) ? fluvial
Montagne (f) ? montagneux
Mer (f) ? maritime
Volcan (m) ? volcanique


Désert (m) ? désertique
Forêt (f) ? forestier
Roche (f) ? rocheux
Fleur (f) ? floral
Herbe (f) ? herbeux
Printemps (m)? printanier
Été (m) ? estival
Automne (m) ? automnal
Hiver (m) ? hivernal
Saison (f) ? saisonnier

– Ánh Tuyết –