Skip to main content
38 ngõ 495 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tác giả: admin

Danh ngôn tiếng Pháp chủ đề Sự phán xét (Jugement)


Một chủ đề danh ngôn “khá lạ” – Sự phán xét, cùng xem trong tiếng Pháp chúng được thể hiện như thế nào nhé!

1. Ne me juges pas, par par ce que tu vois… Je suis une longue histoire que tes yeux n’ont jamais lu!

Đừng phán xét tôi bởi những gì bạn thấy… Tôi là một câu chuyện dài mà mắt bạn chưa bao giờ đọc được!

2. Juger une personne ne définit pas qui elle est, mais plutôt qui vous êtes.

Phán xét một người không cắt nghĩa được họ là ai, nhưng lại cắt nghĩa được bạn là ai.

3. Dernière une apparence normale peut cacher une âme triste ou un coeur brisé. Alors ne jugez pas sans savoir…

Đằng sau một vẻ ngoài bình thường có thể ẩn giấu một tâm hồn buồn bã hay một trái tim tổn thương. Vậy nên, đừng phán xét khi không biết…

4. Réfléchir est difficile, c’est pourquoi la plupart des gens jugent.

Nghĩ thì khó, đó là lý do vì sao phần lớn mọi người lại phán xét.

5. N’écoutez pas les ragots sur quelqu’un. Apprenez à avoir votre propre jugement ! Car vous risquez de passer à côté de personnes formidables à cause de personnes forts minables qui aiment dénigrer les autres !

Đừng nghe những lời đàm tiếu về ai đó. Hãy học cách để có nhận định của riêng bạn! Bởi bạn có thể bỏ lỡ những người tuyệt vời chỉ vì những kẻ kém cỏi thích gièm pha người khác!

6. La déception ne vient jamais des autres, elle n’est que le reflet de nos erreurs de jugement.

Sự thất vọng không bao giờ đến từ người khác, nó chỉ phản ánh những sai sót trong phán xét của chính mình.

7. Ce n’est pas l’histoire qui fait le jugement : c’est le jugement qui fait l’histoire.

Không phải câu chuyện tạo ra sự phán xét, mà chính sự phán xét mới tạo nên câu chuyện.

8. L’ennui est une sorte de jugement d’avance.

Sự nhàm chán trước tiên chính là nguồn gốc của sự phán xét.

9. On est souvent trop prompt dans nos jugements, on juge autrui sur notre première impression.

Chúng ta thường quá vội vàng khi phán xét, chúng ta phán xét người khác ngay từ ấn tượng ban đầu.

– Ánh Tuyết –

Phân biệt nghĩa và cách sử dụng của Apprendre và Étudier


Hầu như trong các trường hợp, chúng mình đều dịch 2 từ Apprendre và Étudier sang tiếng Việt là “học”. Vậy suy cho cùng, chúng có đồng nghĩa hay không, sử dụng có giống nhau không? Câu trả lời là tuy có điểm tương đồng nhưng sử dụng khác nhau rất to nhé!

 – Étudier : học có tính chất nghiên cứu, chúng ta sẽ đào sâu, hiểu cách vận hành của một sự vật, hiện tượng, một vấn đề. 

Apprendre : học để biết mà làm cái gì, chúng ta sẽ trau dồi, làm giàu vốn hiểu biết của mình

Lấy ví dụ nha! 

Ex : + Étudier quelque chose

  • Étudier un projet : nghiên cứ một dự án
  • Étudier la psychologie : theo học ngành tâm lý

+ Étudier à l’étranger : đi du học

—————————————————————

+  Apprendre à + V-inf: học làm gì 

Apprendre à faire du vélo, à cuisiner, à nager : học đi xe đạp, nấu ăn, bơi

+ Apprendre quelque chose: học cái gì

  • Apprendre sa leçon : học bài
  • Apprendre la cuisine: học nấu ăn
  • Apprendre la langue: học ngôn ngữ

+ Apprendre par cœur : học thuộc lòng

————————————————————–

Ngoài ra thì apprendre còn có một số nghĩa như sau:

+ Apprendre à quelqu’un à faire quelque chose / Apprendre quelque chose à quelqu’un: dạy ai làm gì, dạy ai cái gì (=enseigner)

Apprendre à lire à un enfant: dạy trẻ đọc

Apprendre à quelqu’un un métier: dạy nghề cho ai

+ Apprendre quelque chose: báo tin và biêt được tin tức gì (= informer et être informé)

  • Apprendre une nouvelle à quelqu’un: báo tin cho ai
  • Apprendre une nouvelle de quelqu’un : biết được tin gì về ai

Những điều nhỏ nhưng dễ sai này sẽ được lưu ý kỹ trong các khóa học tại #FIclasse, giúp học viên phân biệt ngay từ đầu, tránh học xong 1 hồi rối loạn hơn =)))

Tham khảo các khóa học tiếng Pháp tại: https://tiengphapthuvi.fr/cat-khoa-hoc/khoa-hoc/

– Ánh Tuyết – 

Des journée internationales célèbres – Các ngày quốc tế nổi tiếng


Chúng ta đều biết đến những ngày quốc tế vô cùng quen thuộc như quốc tế phụ nữ 8/3 (journée internationale de la femme), ngày sức khỏe thế giới 7/4 (journée mondiale de la santé), và đặc biệt là một francophone/francophile, chúng ta chắc phải biết tới ngày hội Pháp ngữ 20/3 (journée de la langue française),… Vậy hôm nay hãy cùng Fi ngồi lại đây và tổng hợp một vài ngày quốc tế quan trọng trong năm và xem xem bạn biết được bao nhiêu ngày nhé.

1. 20/3 – Journée internationale du bonheur (Ngày quốc tế hạnh phúc)

6/2012, Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Ban-Ki-Moon công bố về Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3 tại một hội nghị của Liên hiệp quốc về vấn đề này.

Ngày Hạnh phúc được lấy từ ý tưởng của Vương quốc Bhutan, một quốc gia bé nhỏ ở khu vực Nam Á, nằm sâu trong lục địa miền đông Himalayas, vốn được đánh giá là nước có chỉ số hạnh phúc cao dựa trên các yếu tố như: sức khỏe, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân. Khác với các nước khác, mục tiêu của đất nước là hạnh phúc của người dân, chứ không phải tổng sản phẩm quốc nội. 

Liên hiệp quốc chọn ngày 20/3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc vì đây là ngày đặc biệt nhất trong năm – ngày xuân phân. Khi ấy, mặt trời nằm ngang đường xích đạo, độ dài của ngày và đêm bằng nhau đại diện cho sự cân bằng, hài hòa của vũ trụ, giữa âm và dương, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ước mơ và hiện thực. Với ý nghĩa đó, Ngày Quốc tế Hạnh Phúc mang một thông điệp rằng: sự cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.

2. 6/7 – Journée internationale du baiser (Ngày quốc tế nụ hôn)

Bắt nguồn từ nước Anh, ngày lễ đặc biệt này lan rộng khắp và cuối cùng được Liên hợp quốc chính thức công nhận từ năm 2006, để đề cao tình cảm của con người trong xã hội. Trong cuộc sống bề bộn thường ngày, ta thường quên đi việc trao cho nhau những cử chỉ âu yếm thể hiện tình cảm thân thiết. Chính vì thế ngày này được ra đời để tạo cơ hội cho mọi người bày tỏ những tình cảm cao quý đó. 

Ở Việt Nam, ngày này chưa được phổ biến như Lễ Tình Nhân 14/2. Song, một số bạn trẻ lại rất hào hứng với ngày lễ đáng yêu này. 

Chúng ta có rất nhiều kiểu hôn, mà mỗi kiểu hôn lại mang một ý nghĩa riêng của nó:

  • Hôn lên trán : Đây là nụ hôn âu yếm, có ý trân trọng đối phương. Khi ai đó hôn lên trán bạn, chắc chắn anh ấy có tình cảm với bạn, và đây cũng là nụ hôn mang ý nghĩa thăm dò, nếu bạn bật đèn xanh, rất có thể sẽ tiến đến nụ hôn môi. Còn nếu bạn tỏ ra thờ ơ hay khó chịu, anh ấy sẽ biết ngay bạn không có tình cảm với anh ấy.
  • Hôn má : Khi chàng hôn lên má bạn, ý nghĩa của nụ hôn đó là tình anh em, anh ấy coi bạn là một người em gái. Một nụ hôn chưa đủ mặn nồng để gọi là tình yêu, nhưng cũng không quá lạnh nhạt để coi đó là tình bạn. Trong nụ hôn ấy vẫn tồn tại một thứ, đó là khoảng cách.
  • Hôn lên tay : Đây là kiểu hôn bảy tỏ sự lịch lãm, tôn trọng người phụ nữ đứng trước mình.
  • Hôn lên môi : Theo quan niệm của người phương Đông thì hôn môi chính là nụ hôn của tình yêu, chỉ có cặp đôi yêu nhau thì mới khóa môi nhau.
  • Hôn lên cổ: Thông thường rất ít người hôn lên cổ, chỉ có những cặp đôi yêu nhau mới dành cho nhau nụ hôn này. Khi chàng hôn lên cổ bạn nghĩa là chàng đang muốn chiếm lấy bạn, muốn thể hiện tình cảm sâu sắc với bạn.

3. 15/5 – Journée internationale des familles (Ngày quốc tế gia đình)

Năm 1993, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã quyết định lấy ngày 15/5 hàng năm để kỷ niệm Ngày Quốc tế Gia đình với mục đích nâng cao nhận thức về các vấn đề gia đình và tăng cường khả năng của các quốc gia trong việc thực hiện các chính sách toàn diện về những vấn đề liên quan đến gia đình.

Mỗi gia đình chính là một tế bào trong một cơ thể chung chính là xã hội. Bảo đảm sự yên ấm và hạnh phúc của mỗi gia đình không chỉ đòi hỏi nỗ lực từ chính các thành viên trong nội bộ gia đình mà còn cần thiện chí và sự chung tay của cả cộng đồng quốc tế, để từ đó xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

4. 31/5 – Journée mondiale sans tabac (Ngày thế giới phòng chống thuốc lá)

Hội đồng Y tế thế giới (World Health Assembly) vào năm 1987 đã lấy ngày 31 tháng 5 hàng năm làm Ngày Thế giới không thuốc lá. Mục đích nhằm tạo ra và khuyến khích khoảng thời gian 24 tiếng không có khói thuốc lá trên toàn cầu. Mục đích xa hơn là gây sự chú ý của cộng đồng đến tác hại của thuốc lá đối với người hút thuốc lá chủ động cũng như bị động, mà mỗi năm cướp đi sinh mạng của khoảng 5,4 triệu người trên toàn cầu.

Tại Việt Nam, mỗi năm có hơn 40.000 người chết do thuốc lá. Theo ước tính của WHO, con số này có thể tăng thành 70.000 trường hợp mỗi năm nếu không có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Tổn thất về kinh tế của thuốc lá ước tính hơn 24.600 tỷ đồng hay 1,17 tỷ USD mỗi năm. 

Tác động gây hại của thuốc lá với sức khoẻ và nền kinh tế tích tụ theo thời gian, vì vậy cần phải có hành động để ngăn ngừa xu hướng tiếp tục gia tăng số tử vong do thuốc lá và những tổn thất kinh tế do nó gây ra trong những năm tới.

5. 1/6 – Journée mondiale des parents (Ngày Quốc tế phụ huynh)

Nếu như chúng ta thường biết đến 1/6 là ngày Quốc tế Thiếu nhi thì cần chú ý thêm, đây cũng chính là ngày quốc tế phụ huynh. Đây là dịp để đề cao vai trò của phụ huynh trên toàn thế giới trong việc chăm sóc, bảo vệ, và đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ em. 

Phụ huynh tốt là những bậc phụ huynh đem đến cho con mình hạnh phúc, tình yêu thương, sự thấu hiểu, cơ hội phát triển và hơn hết, dạy cho con những kỹ năng để bản lĩnh bước vào đời trong tương lai.

Còn đối với con cái, vào ngày này, chúng ta hãy dành những tình cảm yêu quý, kính trọng gửi đến bố, đến mẹ, đến những bậc phụ huynh đã nuôi dạy ta trong suốt quãng thời gian qua. Hãy tặng họ những món quà nho nhỏ mà chứa đựng những tình cảm âu yếm, chan chứa, một lòng biết ơn sâu sắc, nồng thắm.

6. 1/12 – Journée mondiale de lutte contre le sida (Ngày thế giới phòng chống AIDS)

Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS là ngày lễ quốc tế vào ngày 1 tháng 12 hàng năm, nhằm nâng cao nhận thức về nạn dịch AIDS do việc lây nhiễm HIV, và để tưởng nhớ các nạn nhân đã chết vì HIV/AIDS.

Thay vì tập trung vào một ngày duy nhất, Chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về HIV/AID đã lập ra “Chiến dịch thế giới phòng chống AIDS” vào năm 1997 để tập trung vào thông tin, phòng chống và giáo dục về HIV/AIDS quanh năm. 

Tính đến năm 2017, tổng số người nhiễm HIV trên toàn thế giới là 36,9 triệu người, trong đó tập trung đông nhất ở khu vực Bắc và Nam Phi với 19,6 triệu người. Ngoài ra, số lượng trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 1,8 triệu trẻ.

Năm 2004, “Chiến dịch thế giới phòng chống bệnh AIDS” đã trở thành một tổ chức độc lập.

Dải băng đỏ là biểu tượng toàn cầu cho tình đoàn kết với những người nhiễm HIV và những người bị bệnh AIDS.

– Ánh Tuyết – 

Không khí ngày khai giảng của các nước trên thế giới


Ngày 5/9/1945 – 3 ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các em học sinh nhân khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày này hàng năm vì thế mà có ý nghĩa rất quan trọng đối với thế hệ các em học sinh, sinh viên của Việt Nam.

5/9 là ngày khai trường ở Việt Nam, vậy trên thế giới thì thế nào? Các nước có phải cũng khai giảng vào ngày này không? Hãy cùng Fi tìm hiểu nhé!

1. Mỹ:

Khai giảng ở Mỹ thường không cố định, phụ thuộc nhiều vào quyết định của các bang. Tuy nhiên, thông thường ngày khai giảng các trường sẽ diễn ra vào tuần đầu hoặc tuần thứ hai của tháng 9.

Vào những ngày này, học sinh đến trường chỉ để tham gia những hoạt động ngoại khóa, tiếp xúc bạn bè, thầy cô, chứ không có những nghi thức gì cả. Thậm chí, ở một số trường cấp 3, học sinh sẽ đến sớm hơn 1-2 ngày để được hướng nghiệp, làm quen với môi trường mới và các nội quy của trường học.

2. Pháp:

Lễ khai giảng ở Pháp rất đơn giản và gần gũi, không bóng bay. Năm học mới ở Pháp bắt đầu ngày 1/9. Trước đó một ngày, giáo viên đến trường để chuẩn bị cho buổi lên lớp đầu tiên.

Các trường không có nghi thức gì, chỉ tập trung vào việc cho học sinh tiếp xúc với thầy cô, bạn bè mới. Sau đó, học sinh vào lớp học như ngày thường.

3. Nga:

Thời gian biểu của các học sinh Nga khá tương đồng với Việt Nam: bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 5 năm sau. 

Lễ khai giảng được tổ chức ngày 1/9, các học sinh sẽ diễu hành trên những trục đường chính rồi tỏa về từng trường. Ai cũng cầm trên tay một bó hoa để tặng các thầy cô của mình.

4. Trung Quốc:

Ở Trung Quốc, ngày khai giảng thường tổ chức vào mùng 1/9.

Học sinh sẽ mặc đồng phục đến trường. Hiệu trưởng nói lời khai giảng, sau đó các thầy cô tặng cho học sinh một cuốn từ điển – tượng trưng cho việc trao cho các em nguồn tri thức, cũng có khi tặng cho các em những bộ sách giáo khoa. Sau đó, các em cùng thầy cô về nhận lớp.

5. Nhật Bản:

Một năm của học sinh Nhật Bản kéo dài trọn 1 năm (từ tháng 4 năm trước sang hết tháng 3 năm sau), nhưng bù lại các em được nghỉ 3 lần gồm nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ xuân, chia 1 năm ra thành 3 kỳ học. Ngày khai giảng sẽ do từng trường tự quyết định rồi thông báo với học sinh.

Lễ khai giảng được tổ chức đơn giản, thông thường do trường quyết định, thường vào tháng 4. 

Cách tổ chức không nặng về phần nghi. Vào ngày khai giảng, học sinh đến gặp gỡ các bạn, sau đó giáo viên đưa học sinh về lớp và căn dặn các em nội quy.

Bạn thấy hứng thú nhất với ngày khai giảng của quốc gia nào?

– Ánh Tuyết – 

Danh ngôn tiếng Pháp chủ đề Tình bạn


Một chủ đề thân thuộc, nhưng nghe có vẻ ít danh ngôn ngôn hơn tình yêu hay cuộc sống nhỉ?

Thật ra không phải đâu, hãy để FIclasse gợi ý cho bạn những câu danh ngôn tình bạn bằng tiếng Pháp thật tuyệt vời để gửi gắm tình cảm tới những người bạn của mình nhé!

1. L’amitié double les joies et réduit de moitié les peines.

Tình bạn giúp nhân đôi niềm vui và giảm nửa nỗi đau

2. L’amitié est la similitude des âmes

Tình bạn là sự đồng điệu về tâm hồn

3. L’amitié sans confiance, c’est une fleur sans parfum.

Tình bạn mà không có sự tin tưởng chẳng khác gì hoa không có hương thơm.

4. La clé du bonheur: Trouver des amis avec la même déficience mentale que toi.

Chìa khóa của hạnh phúc: Tìm thấy những đứa bạn điên rồ giống bạn

5. Le bonheur c’est avoir une vieille amie après un long moment et sentir que rien n’a changé

Hạnh phúc là được gặp lại người bạn cũ sau một quãng thời gian dài và cảm thấy chẳng có gì thay đổi cả.

6. Le jour où tu perdras tout… est le jour où tu sauras qui sont tes vrais amis

Ngày bạn mất tất cả là ngày bạn biết được ai mới là người bạn thật sự.

7. Le meilleur ami n’est pas celui que tu connais depuis longtemps, c’est celui que tu connais et qui ne t’a jamais quitté

Người bạn tốt nhất không phải người mà bạn quen biết lâu nhất. Đó là người bạn quen, và chưa bao giờ rời xa bạn.

8. Les bons amis ne vous laissent jamais faire des bêtises…. tout seul.

Những người bạn tốt không bao giờ để bạn làm những điều ngu ngốc… một mình.

9. Les bons amis sont comme les étoiles. Tu ne les vois pas toujours, mais tu sais qu’ils sont toujours là…

Bạn tốt giống như những vì sao, không phải lúc nào bạn cũng thấy họ, nhưng bạn biết rằng họ luôn ở đó.

10. Les vrais amis, même s’ils sont à des kilomètres l’un de l’autre, restent toujours proches, car ils sont connectés au coeur

Những người bạn thật sự, dù cách nhau nhiều cây số, vẫn luôn thật gần, vì họ kết nối với nhau bằng trái tim

11. Toute amitié qui dépasse la barre de 3 ans est susceptible de durer toute la vie

Mọi tình bạn vượt được mốc 3 năm đều có khả năng tồn tại suốt đời

12. Un véritable ami voit ta première larme, attrape la deuxième et arrête la troisième

Một người bạn thật sự nhìn thấy giọt nước mắt đầu tiên của bạn, lau đi giọt thứ hai và không để giọt thứ ba chảy xuống.

13. Une vraie amitié n’a pas toujours besoin d’intimité ou d’une conversation tous les jours. Tant que la relation vit dans le coeur, les amis fidèles ne vous quittent jamais.

Một tình bạn thực sự không phải lúc nào cũng cần sự thân mật hay trò chuyện hàng ngày. Miễn là mối quan hệ còn tồn tại trong trái tim, những người bạn trung thành sẽ không bao giờ rời bỏ bạn

– Ánh Tuyết (Sưu tầm & Dịch) – 

Tuyên ngôn độc lập (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bằng tiếng Pháp


Bạn đã bao giờ đọc bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP bằng tiếng Pháp chưa?
Nhân ngày Quốc Khánh Việt Nam 2/9, cùng đọc và nhìn lại lịch sử hào hùng của dân tộc ta mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi gắm nhé!
—————
Déclaration d’indépendance de la République démocratique du Vietnam.
« Tous les hommes naissent égaux. Le Créateur nous a donné des droits inviolables, le droit de vivre, le droit d’être libre et le droit de réaliser notre bonheur »
Cette parole immortelle est tirée de la Déclaration d’indépendance des États-Unis d’Amérique en 1776. Prise dans un sens plus large, cette phrase signifie : Tous les peuples sur la terre sont nés égaux ; tous les peuples ont le droit de vivre, d’être heureux, d’être libres.
La Déclaration des droits de l’homme et du citoyen de la Révolution française de 1791 proclame également « Les hommes naissent et demeurent libres et égaux en droits. »
Ce sont là des vérités indéniables.
Et pourtant, pendant plus de quatre-vingts années, les colonialistes français, abusant du drapeau de la liberté, de l’égalité, de la fraternité, ont violé notre terre et opprimé nos compatriotes. Leurs actes vont directement à l’encontre des idéaux d’humanité et de justice.
Dans le domaine politique, ils nous ont privés de toutes les libertés.
Ils nous ont imposé des lois inhumaines. Ils ont constitué trois régimes politiques différents dans le Nord, le Centre et le Sud du Vietnam pour détruire notre unité nationale et empêcher l’union de notre peuple.
Ils ont édifié plus de prisons que d’écoles. Ils ont sévi sans merci contre nos patriotes. Ils ont noyé nos révolutions dans des fleuves de sang.
Ils ont jugulé l’opinion publique et pratiqué une politique d’obscurantisme. Ils nous ont imposé l’usage de l’opium et de l’alcool pour affaiblir notre race.
Dans le domaine économique, ils nous ont exploité jusqu’à la moelle, ils ont réduit notre peuple à la plus noire misère et saccagé impitoyablement notre pays.
Ils ont spolié nos rizières, nos forêts, nos mines, nos matières premières. Ils ont détenu le privilège d’émission des billets de banque et le monopole du commerce extérieur.
Ils ont inventé des centaines d’impôts injustifiables, acculé nos compatriotes, surtout les paysans et les commerçants, à l’extrême pauvreté.
Ils ont empêché notre bourgeoisie nationale de prospérer. Ils ont exploité nos ouvriers de la manière la plus barbare.

En automne 1940, quand les fascistes japonais, en vue de combattre les Alliés, ont envahi l’Indochine pour organiser de nouvelles bases de guerre, les colonialistes français se sont rendus à genoux pour leur livrer notre pays.
Depuis, notre peuple sous le double joug japonais et français a été saigné littéralement. Le résultat a été terrifiant. Dans les derniers mois de l’année passée et le début de cette année, du Quang Tri au Nord Vietnam, plus de deux millions de nos compatriotes sont morts de faim.
Le 9 mars dernier, les Japonais désarmèrent les troupes françaises. Les colonialistes français se sont enfuis ou se sont rendus. Ainsi, bien loin de nous « protéger », en l’espace de cinq ans, ils ont par deux fois vendu notre pays aux Japonais.
Avant le 9 mars, à plusieurs reprises, la Ligue Viet Minh a invité les Français à se joindre à elle pour lutter contre les Japonais. Les colonialistes français, au lieu de répondre à cet appel, ont sévi de plus belle contre les partisans du Viet Minh. Lors de leur débandade, ils sont allés jusqu’à assassiner un grand nombre de prisonniers politiques incarcérés à Yen Bai et à Cao Bang.
Malgré tout cela, nos compatriotes ont continué à garder à l’égard des Français une attitude clémente et humaine. Après les événements du 9 mars, la Ligue Viet Minh a aidé de nombreux Français à passer la frontière, en a sauvé d’autres des prisons nippones et a protégé la vie et les biens de tous les Français.
En fait, depuis l’automne de 1940, notre pays a cessé d’être une colonie française pour devenir une possession nippone.
Après la reddition des Japonais, notre peuple tout entier s’est dressé pour reconquérir sa souveraineté nationale et a fondé la République démocratique du Vietnam.
La vérité est que notre peuple a repris son indépendance des mains des Japonais et non de celles des Français.
Les Français s’enfuient, les Japonais se rendent, l’empereur Bao Dai abdique. Notre peuple a brisé toutes les chaînes qui ont pesé sur nous durant près d’un siècle, pour faire de notre Vietnam un pays indépendant. Notre peuple a, du même coup, renversé le régime monarchique établi depuis des dizaines de siècles, pour fonder la République démocratique.
Pour ces raisons, nous, membres du Gouvernement provisoire, déclarons, au nom du peuple du Vietnam tout entier, nous affranchir complètement de tout rapport colonial avec la France impérialiste, annuler tous les traités que la France a signés au sujet du Vietnam, abolir tous les privilèges que les Français se sont arrogés sur notre territoire.
Tout le peuple du Vietnam, animé d’une même volonté, est déterminé à lutter jusqu’au bout contre toute tentative d’agression de la part des colonialistes français.
Nous sommes convaincus que les Alliés, qui ont reconnu les principes de l’égalité des peuples aux conférences de Téhéran et de San Francisco ne peuvent pas ne pas reconnaître l’indépendance du Vietnam.
Un peuple qui s’est obstinément opposé à la domination française pendant plus de quatre-vingts ans, un peuple qui, durant ces dernières années, s’est résolument rangé du côté des Alliés pour lutter contre le fascisme, ce peuple a le droit d’être libre, ce peuple a le droit d’être indépendant.
Pour ces raisons, nous, membres du Gouvernement provisoire de la république démocratique du Vietnam, proclamons solennellement au monde entier :
Le Vietnam a le droit d’être libre et indépendant et, en fait, est devenu un pays libre et indépendant. Tout le peuple du Vietnam est décidé à mobiliser toues ses forces spirituelles et matérielles, à sacrifier sa vie et ses biens pour garder son droit à la liberté et à l’indépendance.
Hanoi, le 2 septembre 1945.
Ho Chi Minh, président

Làm rõ một số trường hợp đặc biệt của động từ nhóm 1


Trong bài chia động từ nhóm 1 đặc biệt, Fi đã từng đăng (Các động từ nhóm 1 đặc biệt trong tiếng Pháp – Học tiếng Pháp (tiengphapthuvi.fr)), có bạn hỏi: “Chỉ có acheter đuôi eter thì chia khác các động từ khác thôi à?” Để giải đáp thắc mắc này, ad sẽ tổng hợp một vài trường hợp tương tự “acheter”. Mọi người hãy cùng theo dõi nhé.

1. Các động từ nhóm 1 đuôi “eter” 

TH1 TH2:
Như các bạn đã biết, động từ đuôi “eter” là động từ đặc biệt và thường có cách chia là nhân đôi phụ âm “t” ở các ngôi Je, Tu, Il, Ils

Ex: + Jeter (v): ném

  • Jette, jettes, jette, jetons, jetez, jettent.

 

 

Fi liệt kê thêm một số động từ thuộc nhóm này để các bạn tiện sử dụng nhé.

  • Feuilleter (v): lật qua, đọc lướt.
  • Projeter(v): phun ra
  • Rejeter(v): loại bỏ
  • Guillemeter(v): để trong dấu ngoặc kép
  • Briqueter(v): lát gạch
  • Craqueter(v): kêu lách tách
  •  Colleter(v): vít cổ
  • Coqueter(v): làm duyên
  • Gobeter(v): ném vữa vào khe gạch để trát tường
Tuy nhiên, đặc biệt của đặc biệt thì chúng ta có những động từ đuôi “eter” mà cách chia sẽ là: “E” chuyển thành “È” ở các ngôi Je, Tu, Il, Ils. Số lượng từ không nhiều, và cũng ko gặp quá thường xuyên, nhưng chúng ta nên biết để khi gặp không thấy bỡ ngỡ nha.

Ex: + Acheter(v): mua

  • Achète, achètes, achète, achetons, achetez, achètent.

Fi liệt kê thêm một số động từ thuộc nhóm này để các bạn tiện sử dụng.

  • Fureter(v): lục lọi
  • racheter(v): mua lại
  • corseter(v): ràng buộc cứng nhắc
  • crocheter(v): mở khóa bằng móc
  • fileter(v): kéo sợi
  • haleter(v): thở hổn hển
  • Émoucheter(v): làm gãy mũi (dao, giùi,…)
  • Caleter(v): chuồn, lẩn

2. Các động từ nhóm 1 đuôi “eler” 

Bên cạnh đuôi “eter”, ta cũng bắt gặp trường hợp tương tự của đuôi “eler”. Hãy tiếp tục theo dõi nhé.

TH1: TH2:
Nhân đôi phụ âm “l” ở các ngôi Je, Te, Il, Ils

Ex: + Appeler(v): gọi

  • Appelle, appelles, appelle, appelons, appelez, appellent.

 Các động từ tương tự:

  • Morceler(v): chia nhỏ
  • Renouveler(v): đổi mới
  • Jumeler(v): xếp đôi
  • Épeler(v): đánh vần
  • Carreler(v): lát gạch vuông
  • Javeler(v): xếp thành đống
  • Fuseler(v): đẽo gọt thành hình thoi
  • Niveler(v): san bằng
  • Bosseler(v): làm gồ lên
“E” hoặc “É” chuyển thành “È” ở các ngôi Je, Tu, Il, Ils

Ex: + Modeler(v): tạo khuôn 

  • Modèle, modèles, modèle, modelons, modelez, modèlent.

 Các động từ tương tự:

  • Peler(v): cạo lông, bóc vỏ 
  • Ciseler(v): đẹo gọt
  • Celer(v): giấu, giữ bí mật
  • Démanteler(v): phá thành lũy
  • Écarteler(v): xé xác, phanh thây
  • Geler(v): làm đông lại, đóng băng
  • Dégeler(v): làm tan đông
  • Surgeler(v): làm đông lạnh nhanh
  • Marteler(v): nện búa

3. Các trường hợp khác của E/É + phụ âm (khác T,L) + ER 

Ex: + Mener(v): dẫn, dắt

  • Mène, mènes, mène, menons, menez, mènent.

Các động từ tương tự:

  • amener(v): mang đến, dẫn đến
  • emmener(v): mang đi, dẫn đi cùng (người)
  • Céder(v): nhường
  • Accélérer(v): tăng tốc
  • Peser(v): nặng
  • Préférer(v): thích hơn, thích nhất.

Các bạn có thể thấy, những động từ thuộc trường hợp 2 của mục 1 và 2 chia theo cách của mục 3. Chúng đều không có dấu hiệu nhận biết, mà ta phải kiểm tra trong từ điển hoặc sách chia động từ.

Nhưng đừng lo lắng, những trường hợp đặc biệt của đặc biệt như trên rất hiếm gặp, chỉ là chúng ta nên biết qua để hiểu ngôn ngữ một cách sâu sắc hơn thôi :)))

—f—i—

?Những điều nhỏ nhưng dễ sai này sẽ được lưu ý kỹ trong các khóa học tại #FIclasse, giúp học viên phân biệt ngay từ đầu, tránh học xong 1 hồi rối loạn hơn =)))

▶️Tham khảo các khóa học tiếng Pháp tại:

https://tiengphapthuvi.fr/cat-khoa-hoc/khoa-hoc/