Skip to main content
38 ngõ 495 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tác giả: admin

Phép màu nhiệm mang tên “thói quen”


Le magique de l’habitude

“Suy nghĩ tạo nên hành động. Hành động tạo nên thói quen. Thói quen tạo nên tính cách. Tính cách tạo nên số phận.”

Khi học một ngoại ngữ, nhiều người thường nghĩ đến việc tìm ra một công thức hoàn hảo, kỳ diệu, hiệu quả đối với tất cả mọi người. Có được nó, ta sẽ chẳng gặp chút khó khăn trong việc học một ngoại ngữ. Nhưng công thức đó thực chất không hề tồn tại, điều quan trọng khi học một ngoại ngữ, đó là SỰ ĐỀU ĐẶN.

Chắc chắn rằng bạn đã vài lần nghe đến “Quy tắc 10,000 giờ” của Malcolm Gladwell. Quy tắc này nói rằng: để trở thành một chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó, chúng ta cần phải trải qua 10.000 giờ luyện tập. Ví dụ: bạn muốn trở thành một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng, bạn phải tập chơi đàn chăm chỉ xuyên suốt 10.000 giờ. Hmmm, thử nhẩm tính xem nhé, mỗi ngày bạn luyện tập trong vòng 1 giờ đồng hồ, vậy vị chi bạn cần 27 năm để đủ 10.000. Đọc đến đây chắc bạn sẽ thấy thất vọng, sẽ thấy nản lòng đúng không. Chẳng lẽ mình cũng sẽ phải mất 2 chục năm mới có thể giỏi một ngoại ngữ? 

Tin tôi đi, bạn không nhất thiết phải mất từng ấy năm đâu. Bởi mục đích của bạn liệu có phải trở thành một chuyên gia, một nhà ngôn ngữ học hay không? Hầu hết sẽ là không. Các bạn thường học ngoại ngữ với mục đích giao tiếp, ứng dụng vào công việc hoặc nhiều nhất là có dính tới nghiên cứu. Hơn nữa, con số 10.000 giờ này vẫn đang bị chỉ trích kha khá. Nhiều chuyên gia không hề đồng tình với kết luận này. Có nhiều người cần rất nhiều thời gian để làm tốt một điều gì đó, nhưng cũng có những người lại chỉ cần ít thời gian để làm điều tương tự.

Ok, nhưng tựu chung lại, dù thế nào đi chăng nữa, trong tất cả các trường hợp, điều quan trọng nhất vẫn là việc để thành thạo một thứ gì đó, ta cần chăm chỉ luyện tập, làm đi làm lại nhiều thật nhiều. Chìa khóa thành công chính là SỰ ĐỀU ĐẶN.

Để tạo ra sự đều đặn đó, ta phải biến sự luyện tập thành một thói quen. Tại sao lại vậy? Trong cuộc sống thường ngày, có rất nhiều điều chúng ta tự giác làm mà chẳng cần phải suy nghĩ gì. Ví dụ, buổi sáng thức dậy, việc đầu tiên bạn làm thường có thể là uống một cốc nước, một cốc café, hay đi tắm cho thật sảng khoái. Nói chung, bạn làm những thứ đó mà chẳng cần phải suy nghĩ gì bởi bạn đã làm cả chục, cả trăm, thậm chí cả ngàn lần, chính vì thế não bạn đã nghiễm nhiên thiết lập cho những việc đó vào “chương trình”. Bạn chẳng bao giờ cần hỏi bản thân xem mỗi sáng bạn nên uống café hay là đi tắm cả. Ngay khi bạn vừa thức dậy, bạn đã tự động biết mình sẽ làm gì: làm những gì quen thuộc nhất. Nó giống như chế độ lái tự động của máy bay vậy.

Những thói quen này không chỉ dừng lại ở thói quen buổi sáng, mà là thói quen trong suốt cuộc đời bạn. Khi nào bạn đi làm, khi nào bạn ăn trưa, khi nào về nhà… bạn đều được điều khiển bởi những thói quen.

Những thói quen này thực sự rất hữu ích bởi nó khiến cuộc sống trở nên dễ dàng hơn nhiều bởi… não ta rất lười. Nó không muốn luôn phải nghĩ về thứ này, nghĩ về thứ kia. Chính vì thế, khi nó thiết lập tự động một cái gì đó, nó sẽ rất hài lòng. Khi mà ta thực hiện một thói quen nào đó, đây chính là lúc mà não được nghỉ ngơi.

Có một số thói quen là trung tâm và có thể ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Đây là những thói quen rất quan trọng. Ví dụ, chơi thể thao. Khi chúng ta rèn luyện thể thao, chúng ta có xu hướng ăn uống lành mạnh hơn, ngủ ngon hơn, uống ít rượu, bỏ thuốc lá, v.v. Thói quen chơi thể thao này ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Vì vậy, đây là những gì chúng ta có thể gọi là “thói quen trung tâm” – những thói quen có thể thay đổi hoàn toàn cuộc sống của một người.

Tuy nhiên, nhiều người không thể biến việc này thành một thói quen được. Lúc đầu, trong lòng của họ lúc nào cũng hừng hực khí thế, nhưng chỉ sau một thời gian, họ đã có đủ những cái CỚ để ngừng cố gắng: “Hôm nay trời nóng quá, nghỉ tập một buổi vậy”, “Tối nay có buổi hẹn quan trọng với người ấy, đi tập về thì vừa mệt vừa bốc mùi, thôi nghỉ một buổi chắc không sao”, “Sao tự dưng hôm nay thấy mệt thế nhỉ?”, “Con bạn đi tập cùng hôm nay nghỉ, đi tập mình thì buồn chết”, “Tự dưng muốn nghỉ quá”… Cứ thế, hôm nay lười một tý, ngày mai lười một tý, cuối cùng họ đã bỏ cuộc. Thật dễ dàng để nói với một người rằng nếu họ không thành công là do họ không có đủ ý chí. Nhưng trên thực tế, nó phức tạp hơn thế một chút.

Để hiểu sâu hơn về những thói quen, ta cần chia nó làm 3 phần:

  • Le signal: tín hiệu thói quen đó bắt đầu
  • La routine: cụ thể đây là những điều bạn làm khi thấy tín hiệu này, cách bạn phản ứng
  • La récompense: những gì bạn nhận được sau khi thực hiện thói quen này

Lấy cái ví dụ cho nó rõ ràng nhé. Vào mỗi buổi chiều bạn đang làm việc và bạn tự dưng dừng lại để mua một chiếc bánh ngọt. Chính vì thói quen này, bạn đã bị tăng cân. Bạn thực sự muốn từ bỏ thói quen này, và chính vì thế bạn phải nắm được 3 yếu tố tạo nên thói quen này.

Câu hỏi đầu tiên: đâu là dấu hiệu của thói quen? Đó có phải là giờ không? Có phải là những lần bạn nghỉ đều vào cùng một thời điểm trong ngày không? Hay dấu hiệu ở đây là cơn đói? Bạn nghỉ vì bạn đói và bạn muốn ăn một thứ gì đó? Hay là… chỉ đơn giản bạn thấy chán và bạn muốn ăn? Chúng ta cần xác định đúng được dấu hiệu của thói quen này.

Tiếp đó là cách bạn phản ứng với dấu hiệu. Cái này thì rõ ràng hơn: đó chính là hành động mua chiếc bánh và ăn nó.

Cuối cùng, phần thưởng chính là cảm giác sung sướng, khi được ăn bánh, được tiêu thụ một lượng đường kha khá… Hay thậm chí đơn giản hơn là cảm giác sung sướng vì được nghỉ ngơi vài phút trong quá trình làm việc, hay cực kỳ cực kỳ đơn giản là nụ cười của người bán bánh dành cho bạn. Rất có thể bạn yêu cô nàng bán bánh và chỉ muốn nhìn ngắm nàng mỗi buổi chiều chăng?

Ôi thế thì làm sao để sửa thói quen này, thay vào đó là một thói quen tốt nhỉ (như thói quen học tiếng Pháp chẳng hạn)?

Hmmm… Tự dưng viết đến đây mỏi mắt quá, vậy thôi xin kết luận bài viết này bằng 3 yếu tố tạo nên một thói quen phía trên, ngày mai viết tiếp. Nếu các bạn muốn đọc tiếp thì xin mời ghé sang bài viết tiếp theo sẽ được lên sóng sớm thôi.

Merci de votre compréhension :)))

Xem phần 2 TẠI ĐÂY!

– Ánh Tuyết –

Bộ từ vựng tiếng Pháp chủ đề Tin học


Trong xã hội ngày nay, công nghệ thông tin có thể được xem như “hơi thở” của chúng ta. Vậy nếu bạn không có chút hiểu biết gì về nó, rất có thể bạn sẽ bị ngộp thở và rất khó tồn tại. 

Thực chất nếu đây không phải chuyên ngành của các bạn, việc tìm hiểu sâu là không cần thiết. Tuy nhiên, với những thuật ngữ cơ bản, được sử dụng phổ biến thì bạn rất nên biết. Fi tổng hợp bộ từ vựng về lĩnh vực công nghệ thông tin để các bạn không bị bỏ lại phía sau thế giới.

Les noms – Danh từ :

L’organisation de l’information sur les ordinateurs (Tổ chức thông tin trên máy tính):

Les verbes – Động từ :

– Ánh Tuyết –

Tìm hiểu hệ thống giáo dục ở Pháp


Le système éducatif français

Chúng ta đều biết rằng có nhiều lý do để Pháp trở thành một trong những nước thu hút một số lượng lớn du học sinh đến từ các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Một trong những lý do đó là nền giáo dục chất lượng cao cùng với mức học phí phải chăng và chính sách “mở” đối với sinh viên nước ngoài. Nếu bạn có mong muốn đi du học Pháp thì việc đầu tiên cần làm đó là đọc hiểu cặn kẽ hệ thống giáo dục nơi đây. Fi đã tổng hợp giúp bạn những thông tin quan trọng nhất về hệ thống này trong bài viết dưới đây.

Về cơ bản, hệ thống giáo dục Pháp gồm 3 bậc : Giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học.

1. Enseignement Primaire (Giáo dục bậc Tiểu học)

Le primaire est divisé en deux parties: l’école maternelle et l’école élémentaire.

(Giáo dục bậc Tiểu học được chia thành hai phần: Mẫu giáo và Trường tiểu học)

a. L’école maternelle (Mẫu giáo)

  • L’école maternelle c’est pour les enfants qui ont entre 3 et 6 ans. 

(Trường mẫu giáo là nơi dành cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi.)

  • Elle n’est pas obligatoire, elle est facultative, mais en général la grande majorité des enfants vont dans cette école.

(Chúng ta không nhất thiết phải đi học mẫu giáo, tuy nhiên nhìn chung hầu hết trẻ em Pháp đều được gửi đến đây.)

  • L’école maternelle est un endroit très important pour que les enfants apprennent à se sociabiliser, à vivre avec les autres.

(Trường mẫu giáo là một nơi rất quan trọng để trẻ có thể học cách hội nhập, giao tiếp với cộng đồng, sống chung với những người khác.)

  • Trường mẫu giáo chia làm 3 cấp lớp: lớp mầm (la petite), lớp chồi (la moyenne) và lớp lá (la grande section).

b. L’école primaire/élémentaire (Tiểu học)

  • On a 6 ans quand on arrive à l’école primaire et quand on termine on a 11 ans.

(Trường tiểu học nhận học sinh từ 6 tuổi đến 11 tuổi.)

  • L’école élémentaire dure 5 ans (Trường tiểu học kéo dài 5 năm):

+ CP = Cours préparatoire

+ CE1 = Cours élémentaire 1

+ CE2 = Cours élémentaire 2

+ CM1 = Cours moyen 1

+ CM2 = Cours moyen 2

  • On apprend à lire, à écrire, à compter. On a des initiations à la science, à l’histoire, et on commence à faire des choses un peu plus concrètes, plus sérieuses.

(Ở đây, chúng ta được học đọc, học viết, học đếm. Chúng ta cũng có những tiếp xúc đầu tiên với khoa học, lịch sử, và bắt đầu làm những thứ cũ thể, nghiêm túc hơn.)

2. Enseignement Secondaire (Giáo dục bậc Trung học)

Vers 10-11 ans, les enfants passent dans le secondaire et y restent jusqu’à 17-18 ans. Le secondaire se divise en deux: le collège et le lycée.

(Khi trẻ 10, 11 tuổi, chúng sẽ chuyển lên bậc Trung học và học ở đó cho tới khi 17, 18 tuổi. Bậc giáo dục trung học được chia làm hai cấp: Cấp Trung học cơ sở và Cấp Trung học phổ thông.)

a. Le collège (Trung học cơ sở)

  • Le collège, c’est l’école à laquelle vont les enfants entre 11 et 15 ans.

(Trung học cơ sở là nơi dành cho trẻ từ 11 đến 15 tuổi.)

  • C’est là qu’on passe 4 années (Ở đây, chúng ta sẽ trải qua 4 năm học):

+ 6e = Sixième

+ 5e = Cinquième

+ 4e = Quatrième

+ 3e = Troisième

  • On évalue les élèves avec des notes qui vont de 0 à 20.

(Chúng ta đánh giá học sinh dựa trên thang điểm 20)

  • À la fin de la dernière année du collège, en 3e, les élèves passent ce qu’on appelle le Brevet des collèges. Il s’agit d’un petit examen général avec des connaissances basiques. Et pour pouvoir finir le collège, il faut obtenir le brevet.

(Kết thúc cấp trung học cơ sở, vào lớp 9, học sinh sẽ phải trả qua một kỳ thi có tên là “Brevet”. Đây là bài kiểm tra kiến thức cơ bản của học sinh. Để tiếp tục lên cấp trung học phổ thông, học sinh buộc phải thi đỗ.)

b. Le lycée (Trung học phổ thông)

  • Il y a différents types de lycées : le lycée général, le lycée technologique et le lycée professionnel.

(Có 3 loại trường: Trường trung học phổ thông thường, trường trung học công nghệ và trường trung học nghề.)

  • Les élèves qui ont les résultats les plus mauvais au collège et au Brevet, en général, ils doivent faire une filière professionnelle qui va durer deux ans, pour leur apprendre un métier, une profession, plutôt technique. En France, l’école est obligatoire jusqu’à 16 ans donc, après les 16 ans, les élèves, quand ils ont leur diplôme professionnel (CAP – certificat d’aptitude professionnelle ou BEP – Brevet d’études professionnelles), ils peuvent arrêter d’étudier et commencer à travailler. Après le BEP, les élèves peuvent continuer d’étudier pendant 2 ans et avoir le bac professionnel.

(Những học sinh có kết quả kém ở cấp 2 sẽ thường tiếp tục học trường nghề trong 2 năm, ở đây họ sẽ học một nghề, một việc gì đó, thường thiên về kĩ thuật. Ở Pháp, việc đi học chỉ bắt buộc cho đến khi 16 tuổi, chính vì thế, sau khi học sinh có chứng nhận chuyên môn CAP hoặc bằng tốt nghiệp nghề BEP, họ có thể bắt đầu đi làm.Với những người đã có bằng BEP, họ có thể tiếp tục theo học 2 năm nữa và nhận bằng tú tài nghề.)

  • Dans un lycée général et technologique, l’enseignement dure 3 ans, dans les classes de seconde, première et terminale.

(Ở trường trung học phổ thông thường và trường trung học công nghệ, học sinh sẽ trải qua 3 năm tương ứng với lớp 10, 11 và 12 ở Việt Nam.)

  • Après la 2nde, on a le choix entre trois programmes : programme S- scientifique, programme L- littérature, programme ES- économique et social)

(Sau lớp 10, học sinh sẽ lựa chọn chương trình học : Ban khoa học, ban văn học, ban tài kinh tế và xã hội.)

  • À la fin de la dernière année du lycée, en terminale, les élèves passent un examen très important: le Baccalauréat (= appelé aussi “bac”). Pour réussir cet examen, il faut avoir au moins la moyenne (10/20). L’obtention de ce diplôme permet d’accéder aux études supérieures.

(Cuối bậc cấp trung học phổ thông, lớp 12, học sinh sẽ phải dự một kỳ thi rất quan trọng: tú tài. Để có được bằng tú tài, học sinh phải có số điểm tối thiểu là 10/20.)

3. Enseignement Supérieur (Giáo dục đại học)

  • Quand les élèves ont réussi le bac, ils peuvent commencer leurs études supérieures.

(Sau khi có bằng tú tài, học sinh có thể bắt đầu bậc Đại học.)

  • D’abord, ils peuvent aller à l’université appelée également la “FAC”. Les universités sont normalement publiques. On peut choisir d’y étudier différents cursus comme les mathématiques, la philosophie, la physique, la biologie, les lettres, etc. Et on peut obtenir un diplôme en trois ans qui s’appelle la licence ou un autre diplôme en cinq ans qui s’appelle le Master. Et si on veut faire de la recherche ou de l’enseignement, ça veut dire que si on veut devenir professeur à l’université, on peut faire un doctorat.

(Đầu tiên, họ có thể chọn học trường đại học thường. Những trường đại học này thường là công lập. Ở đây, sinh viên có thể lựa chọn rất nhiều ngành học : Toán học, triết học, vật lý học, sinh học, văn học… Và trong vòng 3 năm chúng ta có thể đạt được bằng cử nhân, trong 5 năm sẽ là bằng thạc sĩ. Và nếu muốn nghiên cứu hay giảng dạy, tức là trở thành giảng viên đại học thì phải tiếp tục theo học bậc tiến sĩ.)

  • Ensuite, il y a ce qu’on appelle les “Écoles” ou “Grandes Écoles”. Les grandes écoles, ce sont les écoles les plus prestigieuses en France, par exemple les écoles d’ingénieurs, de commerce, de lettres ou de sciences politiques. La plus renommée des écoles d’ingénieurs est Polytechnique et il est très difficile d’y entrer.

(Tiếp đó, chúng ta còn có những ngôi trường lớn. Đây là những ngôi trường danh giá nhất ở Pháp, ví dụ trường kỹ sư, trường thương mại, trường văn học, trường khoa học chính trị. Ngôi trường nổi tiếng nhất trong số những trường đào tạo kĩ sư là trường Bách Khoa, rất khó có thể vào được trường này.)

  • Pour y accéder, on fait généralement 2 années de prépa après le baccalauréat. La prépa, qui s’appelle aussi « classe préparatoire », est une spécificité française.

(Để vào được các trường lớn này, sinh viên thường phải trải qua 2 năm chuẩn bị. Đây là một điểm rất đặc biệt của Pháp, chỉ có ở Pháp.)

…………………………..

Như vậy, chúng ta đã cùng nhau hiểu rõ hệ thống giáo dục của Pháp từ cấp học nhỏ nhất đến cấp học lớn nhất. Đây có thể nói là một hệ thống giáo dục rất đặc biệt trên thế giới. Nếu bạn đang đọc bài viết này, chứng tỏ bạn quan tâm đến Pháp và đang có mong muốn được du học Pháp, vậy chúc bạn sẽ sớm đặt chân đến miền đất xinh đẹp.

Xem thêm các thông tin mới nhất về du học Pháp tại đây.

– Đội ngũ FI – 

Khám phá biệt danh của các ngôn ngữ trong tiếng Pháp


Périphrases désignant des langues

Thông thường trong tiếng Pháp, người tay hay thay thế tên của một ngôn ngữ bằng một cách diễn giải gợi lên ngôn ngữ đó, sử dụng tên của một trong những tác giả hoặc tượng đài văn học lừng lẫy nhất của ngôn ngữ đó. Cùng khám phá tên gọi của 10 ngôn ngữ tiêu biểu nhé.

  1. Allemand: langue de Goethe (ngôn ngữ của Goethe)
  2. Anglais: langue de Shakespeare (ngôn ngữ của Shakespeare)
  3. Chinois: langue de Confucius (ngôn ngữ của Khổng Tử)
  4. Danois: langue d’Andersen (ngôn ngữ của Andersen)
  5. Espagnol: langue de Cervantes (ngôn ngữ của Cervantes)
  6. Français: langue de Molière (ngôn ngữ của Molière)
  7. Russe: langue de Tolstoï/ langue de Pouchkine (ngôn ngữ của Tolstoy/Puskin)
  8. Grec: langue d’Homère (ngôn ngữ của Homer)
  9. Arable: langue du Coran (ngôn ngữ của kinh Coran)
  10. Japonais: langue de Mishima (ngôn ngữ của Mishima)

Còn tiếng Việt của chúng ta được gọi là gì nhỉ? Mọi người thử suy nghĩ xem nào.

“Langue de Nguyên Du” nhé

– Thanh Ngân –

Phân biệt “Mettre au jour” và “mettre à jour” ?


“Mettre au jour” và “mettre à jour”, hai cụm từ này sao cứ giống giống nhau, chắc là cùng nghĩa, sử dụng như nhau đây mà.
Non! Non! Non! Hai cụm từ này được sử dụng với nghĩa khác nhau nhé, nhầm lẫn là chết dở.

1. Mettre au jour :
“Mettre au jour” signifie découvrir, sortir de terre, amener à la lumière, faire apparaître quelque chose qui était caché, notamment dans le domaine de l’archéologie.

? “Mettre au jour” có nghĩa là khám phá, cho ra khỏi lòng đất, đưa ra ánh sáng, làm xuất hiện thứ gì đó vốn được giấu kín, đặc biệt là trong khảo cổ học.

Exemple :

– Ce groupe de journalistes a mis au jour un scandale politique sans précédent.

(Nhóm nhà báo này đã làm sáng tỏ một vụ bê bối chính trị đã được bưng bít.)

– L’archéologue Howard Carter est connu pour avoir mis au jour le tombeau du pharaon Toutânkhamon.

(Nhà khảo cổ học Howard Carter nổi tiếng nhờ việc khám phá ra lăng mộ của pharaon Toutânkhamon.)

2. Mettre à jour:

“Mettre à jour” signifie actualiser, introduire les données les plus récentes, notamment dans le domaine informatique.’

? “Mettre à jour” có nghĩa là cập nhật, nhập dữ liệu mới, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học về thông tin.

Exemple :

– Pense à mettre à jour ton logiciel anti-virus!

(Nghĩ về việc cập nhật phần mềm chống virus đi!)

– J’ai mis à jour mon agenda suite aux discussions sur l’horaire de la réunion de mardi prochain.

(Tôi đã cập nhật lịch trình của mình sau khi thảo luận về giờ họp vào thứ 3 tới.)

– Sais-tu si quelqu’un a déjà mis à jour les dates et horaires sur l’affiche de notre tournoi de tennis ?

(Bạn có biết ai đã cập nhật ngày và giờ trên tờ áp phích của trận đấu tennis này không?)

——————-

Thế đấy, có mỗi khác nhau một tý ở chỗ “à” và “au” thế mà nghĩa lại hoàn toàn khác nhau. Các bạn phải hết sức cẩn thận, không thì lại râu ông nọ cắm cằm bà kia là toi đấy.

Những điều nhỏ nhưng dễ sai này sẽ được lưu ý kỹ trong các khóa học tại #FIclasse, giúp học viên phân biệt ngay từ đầu, tránh học xong 1 hồi rối loạn hơn =)))

Tham khảo các khóa học tiếng Pháp tại: https://tiengphapthuvi.fr/cat-khoa-hoc/khoa-hoc/

– Ánh Tuyết –

Từ vựng tiếng Pháp về loại gia đình khác nhau trên thế giới


Les différents types de famille

Hiện nay trên thế giới, nhiều gia đình có cấu trúc hoàn toàn khác biệt so với kiểu gia đình truyền thống mà chúng ta vẫn biết. Các bạn có muốn biết đó là những kiểu gia đình nào không? Cùng Fi khám phá ngay nhé.

1. La famille nucléaire, c’est le type de famille le plus courant. Elle est composée du papa, de la maman et des enfants.
? Gia đình hạt nhân là gia đình rất phổ biến hiện nay. Gia đình này gồm có bố, mẹ và con cái.

2. La famille élargie rassemble les parents, les enfants ainsi que les oncles, tantes et grands-parents vivant dans le même foyer. Elle rassemble plusieurs membres dans un même foyer.
? Đại gia đình bao gồm bố mẹ, con cái, cô dì chú bác và ông bà cùng sống chung dưới một mái nhà. Có rất nhiều thành viên cùng sống chung trong một hộ gia đình.

3. La famille recomposée comprend un couple d’adultes, mariés ou non, et au moins un enfant né d’une union précédente de l’un des conjoints.
? Gia đình tái hôn bao gồm một cặp vợ chồng đã trưởng thành, đã kết hôn hoặc chưa kết hôn và có ít nhất một đứa con được sinh ra từ sự kết hợp trước đó của một trong hai vợ chồng.

4. La famille monoparentale est une famille qui ne comporte qu’un seul parent, élevant un ou plusieurs enfants.
? Gia đình đơn thân là gia đình mà chỉ có bố hoặc mẹ nuôi dạy các con mình.

5. Le couple pacsé ou dit aussi le pacte civil de solidarité est un contrat entre deux personnes majeures, de sexe différent ou de même sexe, pour organiser leur vie commune. Il a été promulgué par la loi du 15 novembre 1999 en France.
? Gia đình PACS là khi một cặp đôi đã ký kết khế ước liên đới dân sự – hợp đồng giữa hai người trưởng thành, khác giới tính hoặc cùng giới tính, để tổ chức cuộc sống chung với nhau. Nó được ban hành bởi luật ngày 15 tháng 11 năm 1999 ở Pháp.

6. La famille polygame est cette forme de famille où une personne a contracté le mariage avec plusieurs conjoints(es). Elle est connue sous deux formes. La polyandrie quand c’est une femme qui a plusieurs hommes comme maris et la polygynie quand c’est un homme qui a plusieurs femmes comme épouses.
? Gia đình đa phu thê là hình thức gia đình mà một người kết hôn với nhiều vợ, chồng. Nó được biết đến dưới hai hình thức. Đa phu là khi một phụ nữ có nhiều người đàn ông làm chồng và đa thê là khi một người đàn ông có nhiều phụ nữ làm vợ.

7. La famille homosexuelle est une famille où les deux parents sont du même sexe.
? Gia đình đồng tính là gia đình có bố mẹ cùng giới.

8. La famille adoptive est une famille de tutelle, de prise en charge.
? Gia đình nhận nuôi là gia đình giám hộ, hỗ trợ đứa trẻ.

9. La famille d’accueil est une famille hébergeant et accompagnant, dans un temps limité ou non, des personnes en situation difficile.
? Gia đình đón tiếp là gia đình cung cấp chỗ ở và đồng hành với người có hoàn cảnh khó khăn trong một thời gian xác định hoặc không xác định.

En Occident, c’est la famille nucléaire qui est la plus répandue. Cependant, l’augmentation du nombre de séparations, de divorces, de remariages a eu pour effet de diversifier la structure de la famille dite traditionnelle.
Ở phương Tây, gia đình hạt nhân là phổ biến nhất. Tuy nhiên, sự gia tăng số vụ ly thân, ly hôn và tái hôn đã tác động làm đa dạng hóa cấu trúc của gia đình truyền thống.
…………………..
Các bạn thân mến, trên đây là tổng hợp 9 loại gia đình tiêu biểu tồn tại trên thế giới. Việc lựa chọn cách chung sống và kết hôn như thế nào là tùy thuộc vào quan điểm và mong muốn của mỗi người, miễn là nó hợp pháp trên đất nước bạn đang sống là ok. Bạn còn biết thêm dạng gia đình nào khác nữa không? Hãy chia sẻ ngay với Fi.
– Ánh Tuyết – 

Danh ngôn tiếng Pháp về thời gian


Thời gian đã mất không bao giờ lấy lại được. Vậy nên, hãy trân trọng thời gian bằng cách để mỗi giây phút trôi qua đều có ích, như việc dành thời gian đọc bộ danh ngôn tiếng Pháp về thời gian này vậy! ^^

1. Le temps est la seule chose dont dispose un être humain.

Thời gian là thứ duy nhất mà con người sở hữu.

2. Tout ce qui en vaut la peine, prend du temps.

Bất cứ thứ gì giá trị đều cần có thời gian.

3. Le temps est sage, il révèle tout.

Thời gian rất khôn ngoan, nó cho thấy mọi thứ.

4. Le temps qui nous reste à vivre est plus important que toutes les années écoulées.

Thời gian chúng ta còn lại để sống còn quan trọng hơn nhiều so với tất cả những năm tháng đã qua đi.

5. Passer du temps avec la personne qu’on aime est un cadeau très précieux. Il faut en profiter un maximum avant la fin du temps qui nous est imparti.

Dành thời gian cho người ta yêu thương chính là một món quà vô cùng đắt giá. Chúng ta nên tận hưởng tối đa trước khi mà ta không còn thời gian nữa.

6. On dit que le temps change les choses. Mais en fait, le temps ne fait que passer et nous devons changer les choses nous-mêmes.

Người ta thường nói rằng thời gian thay đổi mọi thứ. Nhưng trên thực tế, thời gian chỉ trôi đi và chúng ta phải tự thay đổi mọi thứ.

7. Échangez les personnes qui vous font perdre du temps contre celles qui vous font perdre la notion du temps.

Hãy thay thế những người làm mất thời gian của bạn bằng những người mà bên họ, bạn chẳng còn khái niệm về thời gian.

8. N’abandonnez jamais parce que de grandes choses prennent du temps.

Đừng bao giờ bỏ cuộc bởi những điều tuyệt vời luôn cần có thời gian.

9. Le temps est un professeur. Beaucoup de choses ne s’apprennent pas dans les livres, ni par les gens, mais le temps te les enseignera.

Thời gian là một người thầy. Có nhiều điều chẳng thể học được qua sách vở hay từ người khác, nhưng thời gian sẽ dạy chúng cho bạn.

10. Parfois, ton coeur a besoin de plus de temps pour acccecpter ce que ton esprit sait déjà.

Đôi khi, trái tim cần nhiều thời gian hơn để chấp nhận những gì lý trí đã rõ từ lâu.

11. Si tu ne prends pas le temps de créer la vie que tu désires, tu seras forcé à passer beaucoup de temps à vivre une vie dont tu ne veux pas.

Nếu bạn không dành thời gian để tạo lập cuộc sống mà mình khao khát, bạn sẽ buộc phải bỏ thời gian sống một cuộc sống mà mình không mong muốn.

12. Le temps, c’est comme un flocon de neige, pendant qu’on se demande ce que l’on va faire avec, il fond.

Thời gian giống như một bông hoa tuyết, khi bạn băn khoăn không biết phải làm gì với nó thì nó đã tan rồi.

13. La vie nous apprend à bien faire usage de notre temps et le temps nous apprend la valeur de la vie.

Cuộc sống dạy ta cách tận dụng thời gian còn thời gian dạy ta giá trị cuộc sống.

14. L’objectif est la clé de voûte de la gestion du temps.

Mục tiêu chính là nền tảng của việc quản lý thời gian.

15. N’attendez pas d’avoir le temps, prenez-le!

Đừng chờ đợi cho đến khi bạn có thời gian, hãy chủ động nắm lấy nó!

– Thúy Quỳnh –