Skip to main content
38 ngõ 495 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tác giả: admin

Tổng hợp các loại luận văn, báo cáo và đặc thù của từng loại


Les types de mémoires et leur spécificité 

Chúng ta thường biết đến khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ. Vậy các từ này trong tiếng Pháp gọi là gì? Ngoài ra còn các loại luận văn, luận án nào khác nữa? Tổng hợp sau đây của Fi sẽ giúp các bạn làm rõ nhé.  

Bảng: Récapitulatif des types de mémoires et leur spécificité

Type de mémoire

(Loại luận văn)

Spécificité

(Đặc thù)

Le mémoire de recherche / Le mémoire scientifique

(Luận văn nghiên cứu)

 

 

** L’article scientifique 

 

** (Bài báo khoa học)

C’est un travail personnel entrepris par l’étudiant. Mémoire de master ou une thèse impliquant des recherches poussées et une démarche argumentée. Les recherches empiriques sont nécessaires. Il faut montrer de fortes capacités d’analyse.

(Đây là dự án cá nhân do sinh viên phát hiện ra vấn đề, lên ý tưởng và thực hiện. Luận văn thạc sĩ hoặc luận án tiến sĩ bắt đầu từ các vấn đề mà nghiên cứu sinh tìm ra và lập luận để thực hiện. Các nghiên cứu dựa vào kinh nghiệm là rất cần thiết. Phải chỉ ra được khả năng phân tích sâu của chủ đề)

Un article scientifique est une recherche moins étendue, dans la durée et dans le contenu, et présentée dans un format réduit

(Khác với luận văn thạc sĩ hay tiến sĩ, bài báo khoa học là một nghiên cứu hẹp hơn, về cả độ dài và nội dung, và được trình bày dưới dạng rút gọn)

Le mémoire de fin d’études / Le mémoire universitaire)

 

(Luận văn tốt nghiệp)

 

 

En fin d’études supérieures, ce mémoire demande plus de réflexion que de recherche sur un sujet. C’est un mémoire de recherche avec argumentation et démonstration des conclusions tirées sur le sujet.

 

(Thực hiện khi kết thúc mỗi bậc đào tạo từ bậc đại học trở lên, luận văn yêu cầu nhận xét, đánh giá về chủ đề nhiều hơn là chỉ tìm kiếm. Đó là một loại luận văn nghiên cứu mà từ chủ đề nghiên cứu, sinh viên rút ra kết luận từ các lập luận và dẫn chứng)

Le mémoire de Licence

 

(Khóa luận tốt nghiệp)

La réflexion et la rédaction sont très importantes. Il ne s’agit pas vraiment de faire des recherches innovantes, mais de répondre en argumentant avec des données disponibles.

(Quá trình suy nghĩ và viết rất quan trọng. Đây không hoàn toàn là nghiên cứu để đổi mới, mà để tìm câu trả lời cho vấn đề đã nêu bằng cách lập luận từ các dữ liệu thu thập được)

Le mémoire de Master

(Luận văn thạc sĩ)

 

C’est le mémoire de fin de cursus en Master. Il est similaire au mémoire de recherche, car l’étudiant doit apporter des connaissances et données produites par lui.

(Đó là loại luận văn cần làm sau khi kết thúc bậc học cao học. Nó giống như luận văn nghiên cứu, bởi vì sinh viên phải viết ra được những kiến thức và dữ liệu từ quá trình nghiên cứu của bản thân)

Le mémoire de stage

 

(Báo cáo thực tập)

 

Ce mémoire va problématiser les expériences de stage pour leur donner une dimension plus réflexive, tout en restant concrètes.

(Loại báo cáo này yêu cầu trình bày những kinh nghiệm, nhận xét trong quá trình thực tập một cách quy mô và sâu sắc, tất cả đều phải rất cụ thể)

Le mémoire en marketing

 

(Luận văn / Nghiên cứu MKT)

C’est un document de recherche et d’analyse approfondie qui se concentre sur des aspects spécifiques du marketing dans le contexte d’une organisation ou d’une entreprise. Il est généralement rédigé dans le cadre d’un programme d’études supérieures en marketing ou en administration des affaires (MBA), mais peut également être réalisé par des professionnels du marketing cherchant à approfondir leurs connaissances ou à résoudre des problèmes spécifiques dans leur domaine de travail. Il est très pratique et doit intéresser vos futurs employeurs. Choisissez un sujet en rapport avec votre carrière.

(Đây là 1 văn bản nghiên cứu và phân tích sâu tập trung vào một mặt cụ thể về marketing của một tổ chức hoặc doanh nghiệp. Nếu nó được viết trong khuôn khổ chương trình đào tạo từ Đại học trở lên về marketing hoặc quản trị kinh doanh thì gọi là khóa luận, luận văn. Nếu nó được viết bởi các chuyên gia về marketing để nghiên cứu sâu hoặc giải quyết các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực công việc thì gọi là nghiên cứu. Nghiên cứu này sẽ gây ấn tượng cho những người sếp tương lai của bạn, vậy nên hãy chọn chủ đề liên quan đến công việc của bạn)

Le mémoire de droit

(Luận văn Luật)

C’est un mémoire d’argumentation juridique sur des sujets d’actualité dans le domaine du droit en général, ou sur des problématiques légales complexes.

(Đó là một luận văn mà trong đó người viết lập luận về các chủ đề thời sự dưới góc độ pháp lý về lĩnh vực Luật nói chung, hoặc một vấn đề phức tạp liên quan đến pháp luật)

Như vậy, các luận văn hay các nghiên cứu, được sinh viên thực hiện trong quá trình học tập ở bậc đại học trở lên, hoặc do các chuyên gia thực hiện để phục vụ cho công việc hoặc để nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Mỗi loại lại có tên gọi khác nhau. Trong bài này chúng mình chỉ tổng hợp một số loại hay gặp nhất, để giúp các bạn dùng đúng từ khi cần.

– Khánh Hà – 

[Truyện chêm] Lịch sử ra đời của chữ nổi Braille – một trong những phát minh vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại


(Le braille – système d’écriture tactile à points saillants pour les aveugles)

Ngày hôm nay (4/1) chính là ngày Chữ nổi thế giới (La journée mondiale du braille). Năm 2018, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chính thức chỉ định 4/1 là Ngày Chữ nổi thế giới; là ngày nâng cao nhận thức (renforcer la connaissance) về tầm quan trọng của chữ nổi Braille như một phương tiện giao tiếp (un moyen de communication) nhằm thực hiện đầy đủ quyền con người cho những người mù hoặc mất một phần thị lực (des malvoyants et des aveugles). Ngày này cũng chính là sinh nhật của Louis Braille – người phát minh ra hệ thống kí hiệu đọc và viết bằng chữ nổi (l’inventeur du système de lecture et l’écriture en braille). Vậy nên ấn định ngày Chữ nổi thế giới vào 4/1 cũng chính là để vinh danh ông (rendre hommage à l’auteur du braille). Hệ thống chữ nổi của Braille đã mở ra thế giới ngôn từ, văn chương và âm nhạc cho người mù, làm thay đổi cuộc sống của hàng chục triệu người khiếm thị trên thế giới. Mặc dù hữu ích là thế, nhưng trước khi được chấp nhận và trở nên phổ biến trên toàn thế giới, nó đã trải qua một hành trình dài đầy thử thách, với sự đấu tranh không mệt mỏi của các học trò của Louis Braille. 

 

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1812, tại Pháp, cậu bé 3 tuổi Louis Braille, con trai một người thợ mộc, bị dùi đâm vào mắt trái (le fils d’un menuisier a été poignardé à l’œil gauche par un poinçon), vết thương bị nhiễm trùng (infecté) và lây sang mắt phải. Khi lên 5 tuổi, Braille bị mù hoàn toàn. Thế giới xung quanh cậu bé Louis Braille chỉ còn là bóng đêm. Ở đầu thế kỷ 19, số mệnh ấy mặc định dẫn đến cái nghèo đói, phải đi ăn mày kiếm sống. Thấu hiểu viễn cảnh đó và muốn tránh cho con kiếp ăn mày, bố mẹ kiên quyết bắt cậu học chữ. Ông Simon-Rene đóng đinh lên gỗ (clouer dans le bois) để cho con nhận dạng các chữ cái (reconnaître les lettres). Nhờ vậy, Braille có thể học hết bậc tiểu học ở nhà. 

Năm 10 tuổi, Braille được nhận vào học tại một trong những trường khiếm thị đầu tiên trên thế giới, Viện Hoàng gia dành cho Thanh thiếu niên mù ở Paris (L’institut royal des jeunes aveugles de Paris). Dù thị lực hạn chế, nhưng Braille khiến mọi người ngưỡng mộ về khả năng học tập và được các thầy giáo giao trách nhiệm kèm cặp các bạn đồng trang lứa. Vào thời điểm đó, hệ thống duy nhất được sử dụng để dạy cho học sinh mù đọc sách (apprendre aux aveugles à lire des livres) là hệ thống chữ được phát triển bởi Valentin Haüy, người sáng lập ra ngôi trường nơi Braille theo học. Hệ thống của Haüy có hình dạng của các ký tự đánh máy trên giấy ướt, tạo ra các chữ cái với độ nổi cao có thể cảm nhận được bằng các ngón tay và nhận dạng được (des lettres tactiles à points saillants identifiées par des doigts) . Vì kích thước lớn của chữ cái nên những cuốn sách chứa nhiều rất nhiều trang và rất cồng kềnh, mỗi quyển có thể lên đến vài cân. Tuy nhiên, số lượng từ trong sách lại rất hạn chế. Học sinh cũng không thể tự viết lại các chữ nếu họ muốn.

 

Theo The National Brallie Press, vào năm 1821, khi 12 tuổi, Braille biết đến một hệ thống chữ viết được phát triển bởi Charles Barbier, một đại úy trong Quân đội Pháp. Đây vốn là loại chữ mật cho quân đội (une cryptographie utilisée par l’armée), các chữ cái được mã hóa thành chấm đục nổi trên giấy (être codé sous forme de points saillants sur le papier). Phương pháp giao tiếp của của Barbier là một đoạn mã có 12 chấm trong 2 cột (un morceau de code composé de 12 points en 2 colonnes), được in thành một tờ giấy dày và có thể giải nghĩa qua việc cảm nhận bằng tay. Dù vậy, hệ thống của Barbier tồn tại không ít hạn chế. Nó ngăn cản việc đánh vần chính xác các từ (empêcher l’épellation exacte des mots), cũng như thiếu dấu câu và các ký hiệu dùng trong toán học cũng như âm nhạc (manquer de ponctuations, de signes mathématiques et de ceux de musique). Quan trọng nhất, kích thước của các ô và số lượng chấm khiến việc đọc trở thành một quá trình tốn nhiều công sức.

Phát minh của Barbier đã truyền cảm hứng cho cậu học trò 12 tuổi Louis Braille tiếp tục mày mò, cải tiến hệ thống chữ chấm của Barbier (perfectionner le système d’écriture nocturne de Barbier)tạo ra một bộ công cụ đọc của riêng mình (créer son boîte à outils de lecture). Ông hiểu rằng để cho người khiếm thị dễ đọc thì mỗi chữ cái phải được ký hiệu đơn giản và gọn (simple et concis), sao cho mỗi chữ cái có thể được nhận ra chỉ bằng một đầu ngón tay (lettre reconnue par un seul bout de doigt). Bộ chữ nổi của Braille đã được rút ngắn từ 12 xuống chỉ còn 6 chấm, các chấm này được sắp xếp một trong khung hình chữ nhật gồm 2 cột và 3 dòng. Tập hợp các chấm nổi/chìm trong 6 vị trí sẽ tạo ra một bộ 64 mẫu chấm hoặc ký tự khác nhau. Để phát minh ra bộ chữ này, mỗi đêm cậu chỉ ngủ chừng hai tiếng. Cậu dùng một cái dùi để ấn các chấm lên giấy (presser les points sur le papier par un poinçon), nhưng khác với Barbier, các chấm của Louis xếp dọc thành hai hàng ba, tương tự như quân xúc xắc (le dé). 2 mũ 6 là 64 họa tiết khác nhau, đủ để thể hiện không chỉ chữ cái và số, mà còn viết được cả nốt nhạc (la note de musique) các ký hiệu toán học (signes mathématiques). Chữ cái dễ nhất là chữ đầu tiên: “a” là một chấm phía trên bên trái. 

Phiên bản đầu tiên của chữ Braille sử dụng cả dấu chấm và dấu gạch ngang. Braille sau đó đã xuất bản hệ thống chữ nổi của mình vào năm 1829, và đến lần xuất bản thứ hai vào năm 1837, ông đã loại bỏ các dấu gạch ngang vì chúng quá khó đọc. Là một nhạc công organ tài năng, Braille cũng đã cải tiến phát minh của mình để nó có thể biểu thị được các nốt nhạc với mong muốn hệ thống chữ nổi của mình “đủ linh hoạt để đáp ứng các yêu cầu độc đáo của bất kỳ nhạc cụ nào”.

 

Mặc dù công trình của Braille được các học trò ngưỡng mộ và kính trọng, hệ thống chữ viết của ông đã không được dạy tại Viện Hoàng gia trong suốt những năm ông sống. Thậm chí hiệu trưởng Alexandre René Pignier của Viện Hoàng gia đã bị cách chức sau khi ông cho giáo viên dạy học sinh bằng một cuốn sách lịch sử in chữ nổi Braille. Các học sinh của Braille sau đó đã không ngừng đấu tranh để bảo vệ phát minh của người thầy quá cố. Hệ thống chữ nổi Braille cuối cùng cũng được Viện Hoàng gia chấp nhận vào năm 1854, hai năm sau khi ông qua đời. Hệ thống này sau đó đã lan rộng khắp cộng đồng các nước nói tiếng Pháp và chỉ được cộng đồng nói tiếng Anh công nhận vào năm 1932.

 

Có thể thấy, hệ thống chữ nổi Braille thật sự là một phát minh lớn với những người khiếm thị, nó được ví như ngọn lửa mà thần Prometeus ban phát cho nhân loại. Nó giúp người mù có thể trở thành giáo viên dạy cho chính người mù. Sự ra đời của chữ nổi Braille không chỉ cách mạng hóa giáo dục cho người mù mà nó còn cho phép họ giao tiếp với nhau mà không cần sự can thiệp của những người sáng mắt (permettre aux aveugles de se communiquer sans l’intervention). Helen Keller đã so sánh chữ nổi Braille như một phát minh quan trọng và nhân văn bậc nhất kể từ khi báo in ra đời, bởi nó đã thay đổi cuộc sống của nhiều người hơn – những người lẽ ra phải sống thiếu niềm vui và mất sự tự do của việc đọc và học – theo The Marginalian.

 

Tham khảo: vietnam.net, ngaynay.vn, thethaovanhoa.vn, idesign.vn

Thanh Huyền (tổng hợp)

Périphrases désignant des lieux


“Xứ sở nghìn hồ”, “đất nước mặt trời mọc” là ở đâu nhỉ? Nếu bạn vẫn chưa biết thì hãy đọc ngay bài viết này nhé. Fi đã tổng hợp 18 địa điểm tương ứng với 18 tên gọi đặc trưng của chúng.

.
1. La ville aux mille minarets (thủ đô ngàn tháp) : Le Caire
2. La Porte du Bonheur (cánh cửa hạnh phúc): Istanbul
3. Paris de l’Orient (Paris của Trung Đông) : Beyrouth
4. La ville blanche (thành phố trắng) : Casablanca
5. La Venise du Nord (Venice phương Bắc) : Amsterdam
6. La ville éternelle (thành phố vĩnh cửu): Rome
.
.
7. Le berceau de la civilisation (cái nôi của nền văn minh phương Tây) : Athènes
8. Le Céleste Empire (nơi hoàng đế được coi là con trời) : la Chine
9. La ville lumière (kinh đô ánh sáng) : Paris
10. Le toit du monde (nóc nhà thế giới) : l’Himalaya
11. La Cité de Calvin (thành phố của Calvin): Genève
12. La grande bleue (đại dương xanh): la Méditerranée
.
.
13. La Perfide Albion (đảo xảo trá): l’Angleterre
14. La fille aînée de l’église (trưởng nữ của Giáo hội): la France
15. La terre de dieux (vùng đất của các vị thần): la Grèce
16. Le pays aux mille lacs (xứ sở nghìn hồ) : la Finlande
17. L’empire du Soleil levant (đất nước mặt trời mọc): le Japon
18. Le Nouveau Monde (tân thế giới): l’Amérique
.
Chúng mình xin để lại một câu hỏi để các bạn suy ngẫm thêm nha: Việt Nam của chúng ta có “biệt danh” là gì?
Ánh Tuyết

Ai là “cha đẻ” chữ Quốc Ngữ


Các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ – đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.

.
Tại hội thảo Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ tổ chức tại Điện Bàn, Quảng Nam ngày 24.8, các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ – đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
.
Hội thảo do Bộ KH-CN, Bộ VH-TT-DL, Hội Khoa học lịch sử VN, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức.
.
“Xét lại” Rhodes
Khởi đầu từ năm 1912, giáo sĩ người Pháp Léopold Michel Cadière đã khẳng định trong cuộc hội thảo về văn hóa VN tại Paris rằng công lao phát minh ra chữ quốc ngữ thuộc về giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes (1591-1660). Chính luận điểm của một học giả có uy tín như Cadière đã được nhiều thế hệ học giả, nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa VN mặc nhiên chấp nhận.
.
Đến năm 1950, GS Dương Quảng Hàm viết sách VN văn học sử yếu cũng đánh giá Rhodes có công nhất, là người đầu tiên đem in những cuốn sách bằng chữ quốc ngữ. Giai đoạn 1985 – 1991, các nhà nghiên cứu như GS-TS Lê Văn Hảo, Vũ Ngọc Phan, GS Nguyễn Văn Hoàn… cũng nhận định Rhodes là người đầu tiên đã học hỏi nghiên cứu các cung giọng trong tiếng Việt để hoàn thiện sự phiên âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin, có công đầu trong việc nghiên cứu, có vai trò đặc biệt “mà không ai có thể tranh chấp được”… Năm 1994, đề tài khoa học cấp nhà nước Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 do Hoàng Tiến chủ biên cũng tiếp tục đánh giá Rhodes “là đại diện và giữ công đầu” trong việc khai sinh chữ quốc ngữ.
.
Tuy nhiên, công lao của Rhodes đã bị nhóm nghiên cứu độc lập Đinh Trọng Tuyên – Đinh Bá Truyền (Quảng Nam) mạnh mẽ lên tiếng đòi “xét lại” tại hội thảo. Trong tham luận của mình, nhóm nghiên cứu do ông Tuyên đại diện đã liệt kê nhiều ý kiến trái chiều đối với L.M.Cadière. Cụ thể, năm 1927, học giả Phạm Quỳnh nêu ý kiến “không phải một người nào làm ra một mình” đối với chữ quốc ngữ. Năm 1955, học giả Georges Taboulet (Pháp) trong cuốn Công trạng của Pháp ở Đông Dương mở rộng góc nhìn hơn khi bàn về việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin, cho rằng việc khai sinh chữ quốc ngữ là công lao tập thể, còn linh mục de Rhodes đã hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến loại chữ này. Đáng chú ý, năm 1972, linh mục Joseph Đỗ Quang Chính tỏ ra hoài nghi luận điểm của Cadière khi cho rằng Rhodes chỉ là một trong những người sáng lập “nhưng xem ra phần đông lại đề cao quá mức sự nghiệp của ông”.
.

Bản kinh Lạy Cha năm 1632, do Pina và một thanh niên giáo dân người Việt lần đầu dịch sang tiếng Việt

.
“Vai trò số 1” của linh mục Pina
Nhóm nghiên cứu Đinh Trọng Tuyên đã đưa ra những cứ liệu cho biết linh mục người Pháp Roland Jacques đã phát hiện 2 tác phẩm chưa công bố của linh mục người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585 – 1625) gồm bức thư viết dở bằng Bồ ngữ ở Ma Cao và tiểu luận Nhập môn tiếng Đàng Ngoài bằng La ngữ tại Bồ Đào Nha. Nhờ đó, năm 2002 Roland Jacques đã chứng minh Pina mới chính là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ.
.
Tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã dẫn lời tựa do chính Alexandre de Rhodes viết khi xuất bản cuốn Từ điển Việt – Bồ – La (năm 1651) công khai thừa nhận vai trò số 1 của linh mục Pina trong việc Latin hóa tiếng Việt. Pina đến Đàng Trong năm 1617, sau đó học tiếng Việt, trở thành giáo sĩ đầu tiên giảng đạo cho tín đồ bản địa mà không cần phiên dịch. Ông biên soạn tài liệu Phương pháp Latin hóa tiếng Việt và cuốn Ngữ pháp tiếng Việt; dạy tiếng Việt cho một số giáo sĩ khác, trong đó có Rhodes (đến Thanh Chiêm năm 1624).
Tại phiên kết luận hội thảo chiều qua, nhà sử học Dương Trung Quốc thống nhất với nhiều tham luận không cho Rhodes là “cha đẻ” của chữ quốc ngữ (như quan điểm của nhiều học giả kỳ cựu trước đây); đồng thời đánh giá linh mục de Pina chính là người sáng tạo chữ quốc ngữ, còn linh mục de Rhodes là người hoàn thiện xuất sắc, và Thanh Chiêm là nơi đầu tiên xuất phát chữ quốc ngữ. “Người Pháp có ý đồ khi nhấn mạnh vai trò của giáo sĩ Pháp Rhodes khi họ vào Đông Dương và có chính sách mới đối với văn hóa bản địa”, ông Quốc nói.
Một chi tiết thú vị được nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Quý (TP.HCM) đề cập là, tuy người Pháp có lợi dụng chữ quốc ngữ để củng cố chế độ bảo hộ ở VN, nhưng cuối cùng chữ quốc ngữ đã trở thành vũ khí khơi dậy tinh thần quốc gia dân tộc.
.
.
Vai trò của người Việt và Nhật
Tại hội thảo, bà Châu Yến Loan (tác giả cuốn Dinh trấn Thanh Chiêm – kinh đô thứ hai xứ Đàng Trong, NXB Đà Nẵng – 2015) đã nhắc đến vai trò của người VN cộng tác với giáo sĩ Pina, đó là thanh niên giáo dân có tên đạo là Phêrô cùng với Pina lần đầu tiên dịch một số bản kinh sang tiếng Việt hồi năm 1618, khởi đầu công cuộc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin. Bên cạnh đó, các tên tuổi học giả như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Vĩnh… cùng nhiều người Quảng cũng đã đóng góp tích cực trong việc phổ cập và truyền bá chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20 thông qua phong trào Duy Tân và hoạt động của các chí sĩ đương thời.
.
Nhà nghiên cứu Fukuda Yasuo (Trường đại học Hà Nội) thì nhìn nhận vai trò của người Nhật trong việc hỗ trợ thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin tại xứ Quảng, trong đó có Miguel Maki và Josef Tsuchimochi (đến Đàng Trong giai đoạn 1615 – 1624).
.
Tại hội thảo, linh mục Nguyễn Trường Thăng (Quảng Nam) đã đề xuất tổ chức một ngày tôn vinh chữ quốc ngữ và thành lập một bảo tàng chữ quốc ngữ.
.
– Bài viết này đăng trên báo điện tử Thanh Niên, ngày 25/8/2016 – 
Link đầy đủ: https://thanhnien.vn/ai-la-cha-de-chu-quoc-ngu-185587553.htm#
.
Gần đây, mình bị ấn tượng bởi cuốn Lịch sử chữ Quốc ngữ của Thái Hà Book, phiên bản dành cho những người sưu tầm. Lần đầu mình biết ở Việt Nam cũng xuất bản loại sách “đắt đỏ” này. Vì vậy mình đi tìm lại bài viết trên, là bài viết mình đã đọc từ lâu. Trân trọng giới thiệu cùng các bạn. 

[Truyện chêm tiếng Pháp] Tạo hình ông già Noel bắt nguồn từ đâu?


D’où vient la forme du Père Noël ?

🎄 Nhắc đến Giáng sinh (Noël) – dịp lễ lớn nhất trong năm ở nhiều nước phương Tây (aux plusieurs pays occidentaux) thì không thể không nhắc tới một nhân vật nổi tiếng gắn liền với dịp lễ này, đó chính là ông già Noel (Le Père Noël). Ông già Noel bắt nguồn từ thánh Nicolas (Saint Nicolas) trong đạo Thiên Chúa. Từ khi khái niệm về ông ra đời, ông chính là người bạn thân thiết của mọi đứa trẻ. Ngay cả khi không theo đạo, trẻ em khắp nơi cũng sẽ háo hức đợi ông già Noel chui qua ống khói (la cheminée) đi phát quà cho chúng đêm Giáng sinh. Tuy nhiên, lúc ấy, người ta không định hình cụ thể về ông già Noel như là mặt mũi thế nào, ăn mặc ra sao. Vì vậy ông già Noel đã từng tồn tại nhiều tạo hình khác nhau: một người đàn ông cao gầy (un homme grand et mince); một yêu tinh (un lutin); thậm chí còn có một ông già Noel phiên bản đáng sợ (une version effrayante du Père Noël). Vậy liệu bạn có biết hình tượng ông già Noel với quần áo đỏ, bộ râu trắng quen thuộc ngày nay bắt nguồn từ đâu không? Một điểm vô cùng thú vị nữa là, theo nhiều nhà sử học, trước khi ông già Noel này được tạo ra, thánh Nicolas đã xuất hiện trong rất nhiều hình minh họa và mô tả bằng văn bản với chiếc áo khoác màu đỏ tươi.

🎄 Xuất phát điểm của hình tượng này chính là từ thương hiệu nước giải khát rất quen thuộc với chúng ta, Coca-Cola. Vào những năm 1920, Coca-Cola bắt đầu đưa ông già Noel vào quảng cáo Giáng sinh của mình. Hình tượng ông già Noel đã có nhiều thay đổi theo từng năm. Với nhiều thành công từ việc sử dụng hình ảnh ông già Noel cho các chiến dịch marketing của mình, vào năm 1931, công ty quyết định nâng cấp chiến dịch quảng cáo này bằng việc ủy quyền cho Haddon Sundblom, một họa sĩ minh họa người Mỹ gốc Phần Lan và Thụy Điển, mô phỏng lại ông già Noel phù hợp với ý tưởng quảng cáo của họ. Từ đây, cuộc cách mạng thực sự đã xảy ra. Sundblom cuối cùng đã nghĩ ra ông già Noel vui nhộn mà chúng ta biết ngày nay, với chiếc áo khoác lớn màu nhung đỏ (le grand manteau rouge) đặc trưng và bộ râu trắng dài (la longue barbe blanche) cùng chiếc mũ lông (un bonnet de fourrure). Ông lấy cảm hứng từ bài thơ “Chuyến thăm từ Thánh Nicolas” do Clement Clark Moore viết năm 1822, bài thơ mà nhiều năm sau này được gọi là “Đêm trước Giáng sinh” (La veille de Noël). Ông già Noel xuất hiện chễm chệ trên các áp phích, hình ảnh quảng cáo đã nhận được đánh giá tích cực của khách hàng vì nó đem đến cảm giác tươi vui. Quá thành công, Coca-Cola tiếp tục sử dụng hình tượng này trong những mùa Giáng sinh tiếp theo. Hình ảnh này có sức lan tỏa lớn tới mức người ta quên mất ban đầu đó chỉ là chiến dịch quảng cáo của một công ty. Nhiều người nghĩ rằng đây là hình ảnh thật về ông già Noel. Sau đó, hình ảnh này đã không còn là “của riêng” Coca-Cola nữa.

🎄 Về bản quyền, tạo hình Ông già Noel thuộc về cả họa sỹ thể hiện lẫn công ty Coca-Cola, mặc dù họ không trực tiếp phát minh ra ý tưởng. Trên website chính thức của mình, hãng nước ngọt nổi tiếng đã khẳng định: “Coca-Cola không tạo ra huyền thoại về ông già Noel.” Tuy nhiên, không thể chối cãi rằng, nếu không có Coca-Cola, hình tượng ông già Noel đã không thể trở thành một hình ảnh thu nhỏ của Giáng sinh, đến mức ông ấy có mặt khắp nơi trong thiệp Giáng sinh (cartes de Noël), sách, phim và chương trình truyền hình trong lễ Giáng sinh. Nếu không có chiến dịch siêu thành công này của Coca-Cola, có thể ông già Noel đã mang một hoặc nhiều hình ảnh khác, cũng không phổ biến đến như vậy vào dịp Giáng sinh. 

🎄 Các bạn có quan tâm đến ý nghĩa của những biểu tượng khác gắn liền với lễ Giáng sinh không? Tham khảo thêm ở link ở cuối bài này nhé. Nếu vẫn chưa phải thông tin bạn muốn biết, hãy inbox về cho chúng mình, để chúng mình làm thêm những nội dung phù hợp với bạn nhất nhé. 

Nguồn gốc của Giáng Sinh và các biểu tượng

– Thanh Huyền  (Tổng hợp) –

Từ vựng về Núi và những ngọn núi ở Pháp


Vocabulaire de la montagne et les montagnes en France

Bản đồ dưới đây biểu thị các vùng núi của Pháp (les régions montagneuses en France), bao gồm : les Vosges, le Jura, les Alpes, le Massif central, les Pyrénées et la Corse.

Trong đó có những dãy núi trẻ (les montagnes jeunes) là les Alpes và les Pyrénées và những khối núi già (les massifs anciens), đó là le Jura, les Vosges et le Massif central.

Hành tinh của chúng ta còn bao gồm những vùng núi rất rộng lớn khác (d’autres grandes régions montagneuses) : ví dụ ở châu Mỹ có les Rocheuses et les Andes ; l’Atlas ở châu Phi còn ở châu Á thì có dãy l’Himalaya với đỉnh Everest cao 8850 (l’Everest mesure 8 850 mètres de haut) !

 

ĐỘ CAO VÀ KHÍ HẬU

 Núi là một phần gồ lên trên mặt đất. Núi được phân loại dựa theo chiều cao (une altitude élevée / une hauteur élevée). Ví dụ, đỉnh Mont Blanc ở Pháp cao 4807m (le Mont Blanc en France est haut de 4807 mètres) !

Chênh lệch độ cao cũng làm cho khí hậu ở vùng núi đó thay đổi (le climat change selon l’altitude de la montagne). Có 3 kiểu khí hậu chính :

– Độ cao dưới 500, so với mực nước biển (moins de 500m), vùng đó sẽ mang khí hậu đại dương (climat océanique)

– Từ 500m – 1500m, đó là vùng mang khí hậu bán lục địa (climat semi-continental)

– Trên 1500m, đó là nơi có khí hậu của vùng núi rất đặc trưng (climat montagnard)

 

TỪ VỰNG VỀ NÚI

CÁC PHẦN CỦA NGỌN NÚI

♥ Đỉnh núi là điểm cao nhất của ngọn núi (Le sommet est le point le plus haut de la montagne).

♥ Thung lũng là vùng trũng giữa các ngọn núi (La vallée forme un creux dans le paysage).

♥ Sườn thung lũng, hoặc sườn núi (Le versant / la pente de la vallée ou de la montagne). 

♥ Chân núi (le pied de la montagne).

♥ Sườn dãi nắng (un adret)

>< sườn sấp bóng (envers, ombrée)

♥ Đồng bằng (un plateau)

♥ Vách đá (sát bờ biển) (une falaise)

♥ Sông băng (un glacier)

♥ Chỏm núi (une crête)

♥ Chỏm nhọn (une auguille)

♥ Đèo (un col)

♥ Triền núi (un cirque naturel)

 

CÁC LOẠI ĐỊA HÌNH LIÊN QUAN ĐẾN NÚI

♥ ngọn núi (une montagne)

núi lửa (un volcan)

ngọn đồi (une colline)

rừng nguyên sinh (une forêt)

thác (une cascade)

 

sông (lớn) (un fleuve)

thung lũng (une vallée)

sông (nhánh) (une rivière)

đảo (une île) 

bãi biển (une plage)

Một ngọn núi có thể có các dốc đứng (des pentes raides) hoặc các dốc thoải (des pentes douces), đỉnh của nó có thể nhọn (former un pic) hoặc (être arrondi) . Thường thì đỉnh nhọn và các thung lũng sâu thuộc về các dãy núi trẻ ; còn đỉnh tù là ở các dãy núi già.

 

HIỆN TƯỢNG XÓI MÒN

Đỉnh núi bị tù có thể là do bị mòn đi (usé) do xói mòn (l’érosion).

Hiện tượng xói mòn (Les effets de l’érosion) :

Gió (le vent), mưa (la pluie), tuyết (la neige), băng (le gel) phá hủy đá: đó là sự xói mòn (l’érosion)

Trong hàng nghìn năm, đỉnh núi bị mòn đi và tù đi (s’user et s’arrondir)

Chiều cao của ngọn núi giảm đi, người ta gọi đó là núi già.

 

CÁC HOẠT ĐỘNG TRÊN NÚI

(Les activités à la montagne)

Nơi băng tuyết dày nhất là trên đỉnh núi. Khách du lịch tận dụng nơi này để trượt tuyết (faire du ski).

Dưới chân núi (au pied de la montagne), người ta canh tác nông nghiệp (l’agriculture).

Triền núi (le cirque naturel) là nơi lý tưởng để chăn nuôi (l’élevage).

 

HỆ THỰC VẬT TRÊN NÚI

(La végétation en montagne)

 Thực vật không giống nhau từ chân núi tới đỉnh núi (depuis le pied de la montagne jusqu’à son sommet).

Thực vật trên núi thay đổi theo độ cao (La végétation change en fonction de l’altitude).

2400m – 3000m: địa y, likenlichen (m)

2000m – 2400m: cây tùng. sapin (m)

1600m – 2000m: cây vân sam. épicéa (m) 

800m – 1600m: cây sồi*. hêtre (m) / chêne (m)   (Sự khác nhau giữa hêtre và chêne sẽ đề cập ở một bài khác).

Như vậy trong bài viết nhỏ này, chúng mình đã cùng tìm hiểu một vài kiến thức cơ bản về Núi. Nếu các bạn hứng thú với chủ đề này, hãy gửi yêu cầu cho chúng mình nhé, chúng mình sẽ khai thác thêm.

Nguồn : https://www.maxicours.com/se/cours/la-montagne/

và các nguồn khác từ Internet.

– Fi Classe biên tập và giới thiệu –

ĐỔI GIỜ MÙA ĐÔNG – MÙA HÈ Ở CÁC NƯỚC CHÂU ÂU


⏰ Như các bạn đã biết, mỗi năm Pháp, cũng như các nước châu Âu, sẽ thực hiện “đổi giờ” 2 lần. Vậy nên, có lúc họ cách chúng ta 5h, có lúc lại cách chúng ta 6h.
⛱ Có bạn nào thấy việc đổi giờ này rất chi là lạ k? Nhiều người châu Âu được hỏi thấy việc này rất phiền toái. Vậy vì sao lại có việc đổi giờ như vậy?
(Ảnh: sưu tầm trên internet)
Cùng tìm hiểu một chút nhé.
? Ngày đổi giờ mùa đông sẽ xảy ra vào rạng sáng ngày chủ nhật cuối cùng của tháng 10 hàng năm. Ngày đổi giờ mùa hè sẽ xảy ra vào rạng sáng ngày chủ nhật cuối cùng của tháng 3.
Như vậy, ngày đổi giờ mùa đông năm 2023 sẽ rơi vào rạng sáng Chủ nhật ngày 29.10.2023, đồng hồ sẽ lùi lại một giờ lúc 3 giờ sáng. 3 giờ sáng trở thành 2 giờ sáng.
⏰ Việc này xảy ra sau cuộc khủng hoảng năng lượng 1973. Đó là vào năm 1976, và Pháp là nước đầu tiên đưa ra quyết định này. Họ nhận thấy, vào mùa Hè, ánh sáng tự nhiên nhiều trong ngày, thậm chí đến 9h tối vẫn còn sáng như vào những ngày chiều bình thường nên điều chỉnh giờ sẽ giúp khai thác ánh sáng mặt trời, không buộc phải bật điện công cộng vào giờ đã qui định. Nhiều quốc gia thành viên của Cộng đồng kinh tế châu Âu, tiền thân của Liên minh châu Âu hiện nay, đã làm theo. Từ năm 1996, tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đều đã áp dụng việc đổi giờ này.
? Tuy lý do ban đầu của việc đổi giờ rất hợp lý, nhưng nó lại đem đến một số phiền toái cho người dân, ví dụ như việc một ngày ngắn hay dài thêm ảnh hưởng đến công việc và thời gian sinh hoạt của họ. Trong một cuộc khảo sát, 84% người dân châu Âu, chủ yếu đến từ Đức và Áo đã bày tỏ mong muốn chấm dứt vĩnh viễn việc thay đổ giờ.
?Nhưng đến hiện tại, việc này vẫn chưa thể thực hiện, vì các nhà chức trách vẫn chưa đưa ra quan điểm cụ thể nào về vấn đề này. Nghĩa là, chắc chắn chủ nhật này, đồng hồ Châu Âu sẽ lùi lại một giờ.
– Thanh Huyền (tổng hợp) –